Chủ Nhật, 24/05/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Báo cáo 301 - Phần 1: Thấy gì qua vị trí 'đặc biệt' của Việt Nam?

Lâm Nghi (*)

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

A.I

(KTSG) - Báo cáo 301 Đặc biệt của Mỹ (Special 301 Report) là báo cáo thường niên do Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) công bố nhằm xác định các rào cản thương mại đối với doanh nghiệp và sản phẩm của Mỹ xuất phát từ các vấn đề về bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) ở các quốc gia đối tác thương mại của Mỹ.

Theo đó, Báo cáo sẽ chỉ rõ các quốc gia nào không cung cấp sự bảo hộ đầy đủ và hiệu quả cho các quyền SHTT, hoặc không đảm bảo quyền “tiếp cận thị trường công bằng và bình đẳng cho các cá nhân và tổ chức của Mỹ vốn hoạt động dựa vào các quyền SHTT”(1).

Nếu một quốc gia thuộc danh sách quan ngại này thì chính quyền Mỹ có quyền đáp trả bằng các biện pháp khác nhau, trong đó “Tổng thống có thể rút lại các ưu đãi thương mại đối với quốc gia hoặc áp thuế lên hàng hóa của quốc gia đó”(2).

Báo cáo phân loại các quốc gia mà USTR cho rằng có sự bảo hộ SHTT không đầy đủ và hiệu quả theo ba cấp độ nghiêm trọng từ thấp đến cao gồm: Danh sách theo dõi (Watch List - WL), Danh sách theo dõi ưu tiên (Priority Watch List - PWL) và Quốc gia nước ngoài ưu tiên (Priority Foreign Country - PFC).

Việt Nam trong nhiều năm qua chỉ hiện diện ở cấp thấp nhất - WL nhưng đột ngột trong Báo cáo 2026 được công bố vừa qua, USTR đã “nâng cấp” Việt Nam lên mức cao nhất - PWL và là quốc gia duy nhất thuộc cấp độ này. Động thái này là bất thường trong toàn bộ lịch sử của Báo cáo, khi một quốc gia bất ngờ ở vị trí WL bị chuyển lên PFC mà không qua mức PWL như Việt Nam. Hơn nữa, trong 13 năm qua kể từ khi Ukraine (dưới thời Tổng thống được coi là thân Nga, Yanukovich) bị xếp vào PFC năm 2013, USTR mới đưa một quốc gia vào danh sách này.

Câu hỏi đặt ra là tại sao USTR lại có bước đi chưa có tiền lệ như vậy?

Báo cáo 301 Đặc biệt - công cụ bảo vệ lợi ích thương mại chiến lược của Mỹ

Báo cáo 301 từ lâu đã được các nhà nghiên cứu nhận diện là công cụ theo đó Mỹ sử dụng “con bài” SHTT nhằm bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp Mỹ, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế lớn(3).

Một trong những vấn đề lớn nhất hiện nay của nền kinh tế Mỹ là tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài qua các năm khi nhập siêu ngày càng trầm trọng. Theo thống kê của Cơ quan phân tích Kinh tế (BEA) thuộc Bộ Thương mại Mỹ, năm 2025 chứng kiến thâm hụt hàng hóa và dịch vụ của Mỹ là 901,5 tỉ đô la, trong đó thâm hụt hàng hóa thuần túy (không tính dịch vụ) là 1.240,9 tỉ đô la, trong khi dịch vụ có thặng dư 339,5 tỉ đô la(4).

Riêng Việt Nam đã “đóng góp” 178,2 tỉ đô la vào con số thâm hụt chung của nền kinh tế Mỹ, đứng thứ tư toàn cầu, sau EU, Trung Quốc và Mexico. Tuy nhiên, so với ba nền kinh tế lớn đứng trên bảng tổng sắp, con số thâm hụt từ Việt Nam là thực sự ấn tượng vì quy mô nhỏ bé của nền kinh tế của Việt Nam. Con số 178,2 tỉ đô la thu được từ chênh lệch cán cân thương mại với Mỹ chiếm gần 35% GDP Việt Nam, so với mức 1% của Trung Quốc và 13% của Mexico.

Mặc dù Việt Nam vẫn hưởng được lợi từ việc xuất siêu nhưng khoản lợi không lớn như Trung Quốc bởi lẽ người hưởng lợi lớn nhất vẫn là các công ty đa quốc gia nước ngoài đang thống trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Rõ ràng là, khả năng xuất siêu ấn tượng của Việt Nam đã khiến Mỹ cực kỳ quan ngại. Trên thực tế, để đối phó với tình trạng thâm hụt thương mại “kinh niên”, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã từng thử áp dụng chiến lược “thuế đối ứng” (reciprocal tariff) gây sóng gió năm 2025. Tuy nhiên, tháng 2-2026, Tối cao Pháp viện Mỹ đã ngăn chặn chính sách này. Do đó, như mọi khi, chính quyền Mỹ tận dụng các biện pháp pháp lý để thực hiện mục tiêu của mình.

Hệ thống pháp luật Mỹ nổi tiếng về sự linh hoạt khi áp dụng triết lý vị lợi (utilitarianism) nên có thể dễ dàng cung cấp các công cụ pháp lý cần thiết cho chính quyền nhằm phục vụ một mục tiêu nhất định nào đó.

Tháng 5-2026, sau khi Tối cao Pháp viện bác bỏ chính sách thuế đối ứng, Tổng thống Donald Trump đã viện dẫn Mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974 để áp mức thuế tạm thời 10% lên hàng hóa nhập khẩu trong 150 ngày. Và Báo cáo 301 Đặc biệt dựa trên Mục 301 đặc biệt của cùng Đạo luật cũng là một vũ khí tương tự như vậy nhưng nguy hiểm hơn vì mang tính ổn định lâu dài.

Bởi lẽ, khi Việt Nam được liệt vào cấp độ PFC, tổng thống có quyền đánh thuế mức cao lên các hàng hóa chủ lực của Việt Nam khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ cũng như có các biện pháp đối phó khác.

Bước đi này của Mỹ diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Mỹ đang bước vào các vòng đàm phán thương mại song phương. Các chuyên gia dự đoán rằng Báo cáo 301 Đặc biệt là con bài mà Washington sử dụng để gây sức ép cho chúng ta trên bàn đàm phán.

Sở hữu trí tuệ có là vấn đề thật sự?

Ngày 5-5-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện 38/CĐ-TTg (hỏa tốc) chỉ đạo các cơ quan ban ngành cần siết chặt quản lý quyền SHTT. Tương tự, ngày 15-5-2026, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03) đã khởi tố 5 vụ án hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo điều 225 Bộ luật Hình sự.

Đây có thể được coi là sự phản ứng của Việt Nam đối với Báo cáo 301 Đặc biệt của Mỹ trong bối cảnh hai bên đang trong giai đoạn đàm phán thương mại căng thẳng. Bất cứ một động thái siết chặt bảo hộ quyền SHTT nào cũng có thể tăng thêm sức mạnh cho lập luận biện hộ của Việt Nam trên bàn đàm phán đối với các cáo buộc của Mỹ.

Tuy vậy, các động thái siết chặt quản lý SHTT chỉ là giải pháp đối phó nhất thời. Với bản chất là công cụ chính trị nhằm bảo vệ lợi ích thương mại chiến lược, rõ ràng các cáo buộc xâm phạm SHTT trong khuôn khổ Báo cáo 301 Đặc biệt thường chỉ là cái cớ để Mỹ thực hiện các biện pháp gây khó khăn cho hoạt động nhập khẩu vào thị trường Mỹ của quốc gia mục tiêu, tăng khả năng xâm nhập của hàng hóa xuất xứ Mỹ để hạn chế thâm hụt thương mại cho phía Mỹ.

Do vậy, SHTT thực sự không phải là vấn đề cốt lõi. Nếu Việt Nam vẫn duy trì đà xuất siêu sang thị trường Mỹ như hiện nay thì viễn cảnh Mỹ nhượng bộ đáng kể trên bàn đàm phán là rất khó xảy ra.

(*) Trường Đại học Kinh tế - Luật ĐHQG TPHCM

(1) Ilias Shayerah và Ian F. Fergusson, Intellectual Property Rights and International Trade, Nova Publishers, 2008 p. 43.

(2) Peter Drahos and John Braithwaite, Information Feudalism, The New Press, 2002, p. 89.

(3) Peter Drahos and John Braithwaite, Information Feudalism, The New Press, 2002, p. 88-90.

(4) https://www.bea.gov/news/2026/us-international-trade-goods-and-services-december-and-annual-2025

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới