Thứ Hai, 24/01/2022, 18:25
32 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Buôn gốc bán ngọn

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Buôn gốc bán ngọn

Đỗ Quang Tuấn Hoàng

Chị Thủy đang bán hàng ở ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

(TBKTSG) – “Kẹo kéo càng kéo càng dài, càng nhai càng ngọt, chạy tọt về nhà xin ông, xin bà năm xu, một hào ra mua kẹo kéo đê ê ê…”, “Năm chục đôi, lôi thôi một trăm bốn chiếc, kem mút đ…â…y…”… Những lời rao rộn rã và đầy quyến rũ ấy đã ngân vang khắp ký ức tuổi thơ của những đứa trẻ quê mùa chúng tôi, cho tới bây giờ…

Hàng ta càng la càng đắt

Một phụ nữ vác lặc lè một gùi gồm: “chun” quần, kim gút, dây dù, móc khóa, chồng thau nhựa cao ngất… lặng lẽ đến kiếm một góc chợ ngầu bụi đứng ngắm nhìn thiên hạ bán mua. Chừng dăm phút sau, bất thần, cô hắng giọng la làng: “Đập cho bể nè! Đập cho bể nè!”. Vừa la, cô vừa giang tay cố đập một cái thau nhựa xuống nền đất, rồi nhảy lên dậm lấy dậm để cái thau.

Ngay lập tức, tiếng la cùng hành động kỳ quặc ấy thu hút hàng chục cặp mắt. Lúc ấy, người phụ nữ cầm cái thau dúm dó lên, mỉm một nụ cười thật duyên rồi nói to với những người hiếu kỳ xúm xít lại: “Bà con đã tận mắt chứng kiến tôi đập cái thau này rồi nha. Đừng nghĩ rằng trong cơn tức giận tôi phá của. Xem đây!”.

Nói đoạn, cô nắn nhẹ, cái thau nhựa trở lại hình dạng ban đầu: “Quý bà, quý cô, quý cậu… khi bực bội thường chụp đồ đạc trong nhà đập cho nguôi cơn giận, cho bớt cơn sầu. Chẳng may vớ phải thau nhôm thì chỉ còn nước bán ve chai. Thau này được sản xuất bằng công nghệ vĩnh cửu. Không bao giờ bể. Chỉ 5.000 đồng/cái. Ai máu nóng mua nhanh, mua nhanh!”. Chưa đầy 15 phút, chồng thau nhựa hết veo.

Bí quyết… la

Nghề “bán hàng la” đã truyền từ đời ông nội Thu đến giờ. Chả là, đầu thế kỷ 20, ở Sài Gòn – Gia Định bắt đầu xuất hiện một công cụ lấy lửa rất nhỏ gọn được gọi là hộp quẹt đá và hộp quẹt diêm. Nội Thu từ miền cát trắng Quảng Trị vào học nghề may ở Chợ Lớn. Học đến hai năm ròng mà ông chỉ may được mỗi một kiểu quần tà lỏn đáy nem lưng rút. Biết mình không có khiếu, ông đành khăn gói hồi hương cày sâu cuốc bẫm. Trước khi về, ông gom hết tiền mua ít hộp quẹt đá mang về làm quà. Cái hộp quẹt đá đã hớp hồn ngay các cụ nghiện thuốc rê ở quê, nội Thu nhượng lại với giá gấp 20 lần giá gốc. Thấy hời, ông vô Chợ Lớn mua cả thùng mang về chợ quê bán.

Ngồi đuổi ruồi cả ngày giữa chợ, chập tối mới có một bà già ghé vào hỏi: “Chú bán cái chi mà tròn tròn, dài dài, nhỏ nhỏ vậy chú?”. Đến lúc đó, ông mới hiểu ra rằng từ sáng đến giờ ế hàng là vì không ai biết mình bán cái chi. Thế là ông cầm cái hộp quẹt đá lên vừa quẹt quẹt cho nảy lửa vừa giảng giải: “Hộp quẹt con gà, chính hiệu con gà. Chỉ cần cà một cái, đốt cháy… cái nhà. Mại dzô! Mại dzô!”. Người qua kẻ lại, ai cũng ghé vào xem. Loáng một cái, thùng hộp quẹt được bán hết veo. Mua nguyên thùng giá 1 đồng Đông Dương bán được 50 đồng. Ông nghiệm ra rằng, những món lạ, người bán cần phải giới thiệu và biểu diễn công dụng, khách hàng mới chịu mua.

Từ hôm đó, ông trở thành dân bán hàng la. Sau khi hộp quẹt quá quen thuộc, ông đi lùng tìm những thứ khác mà người dân thời đó còn lạ lẫm như: phẹc mơ tuya (dây kéo), dây thun luồn lưng quần, đèn pin ma-nhê-tô, đèn măng sông… Mỗi một loại đồ vật, ông phải nghĩ ra một bài la.

Thu “gút” lại: “Đặc điểm của nghề bán hàng la là chỉ bán những món lạ, mới được phát minh. Nhưng bây giờ công nghệ thông tin hiện đại rồi. Vì vậy nghề bán hàng la chuyển hướng sang bán những món hàng thiết yếu hàng ngày của người dân. Đặc điểm thứ hai là phải vừa bán vừa la vừa biểu diễn công dụng của món hàng”.

Bán hàng la có thể chia thành ba loại. Loại hàng “xi”: chuyên bán những món nữ trang như: vàng vòng xi mạ, vòng cẩm thạch, nhẫn bạch kim… dỏm. Loại hàng “xài” gồm những món đồ vặt vãnh nhưng thiết yếu với đời sống hàng ngày như kim chỉ, dây dù, thau, nồi, miếng đánh xoong, đèn pin soi tiền giả… Loại thứ ba là hàng “chơi” gồm những món đồ lạ mắt dành cho con nít như con lật đật, robot…

Thu nhập của dân hàng la thì tùy hên xui. Tuy nhiên, nếu lãi dưới 50.000 đồng/ngày thì họ chuyển vùng ngay. Những ngày bình thường, mỗi người có thể kiếm được hơn 100.000 đồng. Những nơi diễn ra lễ hội hoặc tết nhất, một người có thể kiếm hơn 500.000 đồng/ngày là chuyện thường.

Anh Mai, người có thâm niên hơn 10 năm bán hàng la ở vùng Đông Nam bộ, tiết lộ: “Không có nghề lang thang nào lãi hơn nghề bán hàng la. Một chiếc nhẫn xi mạ giống như vàng 18K chỉ có 500 đồng vốn, mình hét giá 25.000 đồng. Khách hàng trả giá nào cũng dính. Một chiếc vòng cẩm thạch bằng thủy tinh giả vốn 1.000 đồng, mình hét 50.000 đồng. Ai nỡ trả giá dưới 10.000 đồng? Tụi tui luôn mồm bảo đây là hàng giả. Thế mà người ta cứ mua ào ào”.

Dân trong làng

Khác với Thu, hành nghề theo kiểu cha truyền con nối, chị Thủy ở ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến với nghề bán hàng la từ nỗi cực của bản thân.

Nơi gia đình chị Thủy ở là một xóm nhỏ với hơn chục nóc nhà nằm sâu trong rừng. Các hộ dân vào đây lập trang trại trồng hạt tiêu, nuôi bò, dê, gà… ai cũng bận bịu, đường ra chợ An Thới lại cách xa 7 cây số nên mâm cơm gia đình thường là thức ăn khô và ít rau ráo vườn nhà. Cách đây bốn năm, cô em dâu sinh nở, muốn có thức ăn tươi tẩm bổ cho em lại sức nên cứ một hai ngày, chị Thủy lại cất công ra chợ. Thấy vậy, các gia đình trong rẫy, người gửi mua con cá, cân thịt, người nhờ mớ rau, trái ớt. Mỗi lần đi chợ về, chiếc xe máy của chị lại lủng lẳng túi to đùm nhỏ. Có lần dừng xe nghỉ dưới bóng cây bên vệ đường, mấy người dân sống quanh đó tưởng chị đi bán hàng nên chạy hỏi mua.

Chăm cho mẹ con cô em dâu cứng cáp, chị Thủy nhờ chồng đóng cho cái sạp gỗ, mua thêm hai cái sọt, chằng ngay ngắn lên yên chiếc Wave Trung Quốc, lận lưng 2 triệu đồng tiền vốn rồi bước vào nghề bán hàng la. Ba giờ rưỡi sáng trở dậy, chạy xe lên chợ An Thới, rảo từ đầu đến cuối, lấy mỗi thứ một tí từ cọng hành đến mớ rau, con cá, cân thịt… Năm giờ, chị Thủy bắt đầu rong ruổi đi bán hàng.

Dọc đường lớn thì nhàn tênh, đến cụm dân cư nào đó, chị vừa gạt chân chống xe là bà con chạy ra lựa, ngã giá và mua thực phẩm ngay. Ở những khu dân cư thưa thớt, chị cất tiếng rao: “Rau, thịt, cá ra mua… ua… ua…” và nhận những tiếng í ới: “Rau ơi, chờ chút”, “Thịt ơi”, “Cá ơi”… Nếu hàng không ế ẩm thì tới 7 giờ tối chị Thủy về đến nhà. Chị nhẩm tính, mỗi ngày đi trung bình 50 cây số, lãi 200.000-300.000 đồng.

Trường hợp của anh Sơn Lâm ở thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, thì lại khác. Năm 1990, gia đình dắt díu nhau vào đây định cư. Làm thuê làm mướn, tích cóp được tiền mua chiếc xe máy Dream II, Lâm đi buôn bán vải. Nhảy xe đò xuống TPHCM cất hàng, mang về chằng vào xe Honda ngày ngày rong ruổi vào các buôn làng để bán tận tay cho đồng bào dân tộc hoặc đổ buôn cho các đại lý. Nhưng bán vải thì mỗi năm chỉ rộ được bốn tháng đầu mỗi mùa.

Phần vì muốn có việc làm quanh năm, phần thấy đồng bào ở xa chợ búa nên luôn khan hiếm hàng khô, vậy là Lâm chuyển sang buôn bán những mặt hàng dân dụng, nào hộp keo 502, phích cắm điện, vòi hoa sen… đủ cả. Một chiếc vòi hoa sen mua ở TPHCM giá 40.000 đồng, đổ buôn cho các đại lý với giá 50.000-55.000 đồng, người ta bán đến tay người tiêu dùng là 60.000-80.000 đồng. Với phương châm: “Thân thiện, chu đáo, tin cậy”, ngày ngày, Lâm đi trung bình 100 cây số, len lỏi đến khắp những buôn làng của bà con dân tộc K’Ho, Châu Mạ, Kinh… ở 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Lâm Đồng để cóp nhặt từ 500.000-600.000 đồng/ngày.

Sau sáu năm tích cóp, không chỉ đủ tiền trang trải cho cuộc sống của gia đình bốn người, Lâm còn sắm được chiếc ô tô Mitsubishi, trọng tải 750 ký, giá 70 triệu đồng. “Lên đời xe nhưng thu nhập lại giảm” – anh cho biết – vì ô tô không thể len lỏi vào những buôn làng xa xôi được nữa. Có mối quen thì khi hết hàng, chủ đại lý điện thoại, Lâm mang hàng đến đổ nhưng muốn mở rộng mạng lưới thì phải chạy xe lòng vòng, gặp đại lý nào cũng xuống chào hàng. Hàng đổ dạng ký gửi, thu tiền dạng gối đầu. Giờ người khôn của khó, nhiều người làm nghề nên mỗi người phải có những chiêu thức khác nhau. Bí quyết của Lâm là ngoài giá cả hợp lý, tinh thần phục vụ xởi lởi, tin cậy thì mới tạo được niềm tin cho khách hàng. “Nhiều người đổ hàng lắm nên mình chỉ đi chậm một chút là thua, thế nên mới phải chăm chỉ thức khuya dậy sớm”.

Trong câu chuyện trên đường về, Lâm nhẩm tính, mỗi tháng anh loanh quanh trong tỉnh Lâm Đồng trung bình 5.000 cây số, chi phí hao mòn xe xăng dầu là 10 triệu đồng, thu nhập từ 7-11 triệu đồng. Bí quyết của anh là phải biết điều tra thị trường, có vùng hàng tốt, giá cao thì khó bán, dân nghèo nên người ta chỉ chuộng những mặt hàng giá cả phải chăng, dùng kém bền cũng được. Ngược lại, có vùng mức sống của người dân khá cao, người ta sẵn sàng mua đắt một chút cũng được, miễn là có hàng tốt và đẹp.

“Binh thiên”

Đó là hai từ mà cư dân bán hàng la tổng kết về những tai nạn nghề nghiệp của họ. Những người bán đồ chơi trẻ em, bán hàng “xi” thì phải rải tấm nylon, ra vỉa hè, lề đường ngồi bán nên bị công an, trật tự… rượt chạy tóe khói là chuyện cơm bữa. Thậm chí, có lần anh Quang – một cư dân hàng la ở khu vực bến Ninh Kiều (Cần Thơ), còn suýt bị gán tội tiếp tay cho kẻ gian.

Lần ấy, một cậu thanh niên ăn mặc bụi bặm đến mua của anh ba cái nhẫn vàng. Khi bị công an bắt quả tang vì đang dàn cảnh lừa đảo, thả mấy cái nhẫn trên vỉa hè, chờ có người qua lại nhặt được, hắn nhảy bổ ra, vờ là cùng trông thấy và đòi người ta chia tiền rồi mới cho mang nhẫn vàng đi. Bị hỏi cung, hắn khai mua nhẫn vàng của anh Quang. Bị công an hỏi thăm, anh Quang sợ mất mật và nhảy xe đò chuyển địa bàn ngay trong đêm.

Còn Sơn Lâm, không tính vô số lần bị kẻ xấu chặn đường xin đểu, đã hai lần anh bị bọn cướp tấn công. Ngày ngày đối mặt với hiểm nguy rình rập nên anh luôn phải đề phòng. Tiền không để nhiều trong người mà chia ra thành từng món nhỏ rồi găm ở mỗi nơi một ít trong thùng, dưới ghế xe. Lâm cũng cười bảo tối tối vẫn luyện võ đều đặn để “có vốn mà đối phó với lũ cướp đường”. Tôi dám chắc nghề bán hàng rong ra đời khi xã hội loài người có nhu cầu trao đổi nhu yếu phẩm và những người buôn gốc bán ngọn sẽ luôn hiện diện, cho dù cuộc sống có thay đổi đến đâu đi nữa. “Con rùa chạy ngang sợi chỉ! Sợi chỉ trói chân con rùa!”. Tiếng la bí hiểm kéo đám đông con nít kéo về một góc công viên. Một người bán hàng la, ở đó.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới