Thứ Hai, 30/01/2023, 06:50
22 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo


Các quy tắc để kinh tế phát triển cân đối

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Các quy tắc để kinh tế phát triển cân đối

Nguyễn Quang A

(TBKTSG) – Nền kinh tế Việt Nam phát triển thiếu cân đối – vì đâu? Bài viết này dựa vào số liệu của Tổng cục Thống kê, vài quy tắc đơn giản có thể suy ra từ hai đồng nhất thức sơ đẳng để thử đưa ra vài chẩn đoán nhằm góp phần vào thảo luận các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô (*).

Khung khổ phân tích

Đồng nhất thức thứ nhất: GDP = C + G + I + N.E. (1)

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) = tổng cầu + xuất khẩu ròng (N.E.) = (Tổng tiêu dùng + Tổng đầu tư) + N.E. = tiêu dùng cá nhân + tiêu dùng của chính phủ + tổng đầu tư + N.E. = C + G + I + N.E.

Đồng nhất thức thứ hai:

Đầu tư = Tiết kiệm (để dành) nội địa + tài trợ có nguồn gốc nước ngoài. (2)

Do là đồng nhất thức nên chúng luôn thỏa mãn, bất chấp ý chí, ý muốn của bất cứ ai, cơ quan nào. Nói cách khác nếu các chính sách có thể tác động đến C, G, I hay N.E thì GDP đã được xác định, hay nếu I không đổi mà để dành nội địa giảm, thì buộc phải vay mượn nước ngoài để đầu tư.

Bốn quy tắc nên tuân thủ

Từ hai đẳng thức trên có thể suy ra vài quy tắc nên tuân thủ nếu muốn có sự phát triển vĩ mô cân đối trong dài hạn (**). Các quy tắc này có thể bị vi phạm trong ngắn hạn, nhưng nếu bị vi phạm trong thời gian dài thì sẽ dẫn đến những bất ổn vĩ mô.

1. Cần có tăng trưởng GDP lành mạnh (đều đặn và cao ở mức có thể).

Không có tăng trưởng kinh tế thì không có sự phát triển.

Tuy vậy tăng trưởng đều đặn (và ở mức cao có thể) mới là quan trọng. Tăng trưởng cao nhưng không bền vững không phải là giải pháp.

2. Trong dài hạn tổng cầu đừng tăng nhanh hơn tốc độ tăng GDP. Nguồn lực nước ngoài đừng tăng nhanh hơn GDP.

Từ đồng nhất thức (1), GDP = tổng cầu + xuất khẩu ròng, ta thấy ngay nếu trong dài hạn tổng cầu tăng nhanh hơn GDP thì xuất khẩu ròng phải âm (tức là dùng nguồn lực nước ngoài) và có mức tăng nhanh tương ứng để bù lại.

3. Đầu tư nên tăng nhanh hơn mức tăng tiêu dùng.

Bên trong tổng cầu (tức là tổng tiêu dùng và tổng đầu tư), thì trung bình nhiều năm tăng trưởng đầu tư nên nhanh hơn mức tăng tiêu dùng một chút để cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế đều đặn là có thể. Đầu tư tăng quá nhanh so với tăng tiêu dùng sẽ làm tổn hại đến vốn con người về dài hạn (vắt kiệt sức dân, không công bằng giữa thế hệ hiện tại phải thắt lưng buộc bụng và thế hệ mai sau).

4. Tăng để dành nội địa nên cao hơn mức tăng đầu tư để tránh nợ nần gia tăng.

Đồng nhất thức (2) cho thấy nếu mức tăng tiết kiệm nội địa thấp hơn mức tăng đầu tư, thì buộc phải gia tăng nợ nần.

Một nền kinh tế có thể được gọi là cân đối về mặt vĩ mô nếu hoạt động theo và duy trì được bốn quy tắc nêu trên trong dài hạn.

Với khung khổ nêu trên, chúng ta hãy xem trong dài hạn (từ 1995 đến nay) nền kinh tế Việt Nam diễn biến ra sao. Một điểm xin được lưu ý là bài này dùng thuật ngữ đầu tư (investment) theo nghĩa kinh tế học, chứ không phải “vốn đầu tư” theo cách dùng thông dụng hiện nay. Tổng đầu tư, tính bằng tiền, được phản ánh trong số liệu thống kê dưới mục “tổng tích lũy tài sản”.

Tăng trưởng lành mạnh?

Tăng trưởng GDP là quan trọng, nhưng con số tăng GDP hàng năm chưa chắc đã phản ánh chính xác sự tăng trưởng, nói chi đến tăng trưởng lành mạnh. Theo Tổng cục Thống kê, số liệu về tăng trưởng GDP của Việt Nam diễn biến như sau (xem biểu đồ 1, số liệu năm 2011 là ước tính).

Có thể thấy tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam thuộc loại cao. Vấn đề có giữ được mức tăng trưởng bền vững trong nhiều chục năm nữa hay không là thách thức lớn.

Tăng tổng cầu so với tăng GDP

Có thể thấy, trong dài hạn, tổng cầu luôn tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP rất nhiều, thậm chí mức tăng hàng năm của chỉ một thành phần của tổng cầu là đầu tư (I) cũng vượt quá mức tăng GDP rất nhiều.

Quy tắc thứ hai bị vi phạm trong thời gian rất dài. Và không có gì lạ khi nhập siêu (xuất khẩu ròng âm) tăng liên tục và ngày càng gia tăng (xem biểu đồ 2 và 3). Để giải quyết căn bệnh này không thể dùng các biện pháp hành chính, hô hào hay các biện pháp nhất thời mà phải đồng thời tuân theo cả bốn quy tắc nêu trên.

Tăng đầu tư so với tăng tiêu dùng

Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ tăng đầu tư về cơ bản luôn cao hơn tỷ lệ tăng tiêu

dùng. Về hình thức như vậy quy tắc thứ ba được tuân thủ. Tuy vậy, quy tắc này yêu cầu mức tăng đầu tư cao hơn mức tiêu dùng một chút, nhưng thực tế mức tăng đầu tư luôn cao hơn mức tăng tiêu dùng rất nhiều, trừ năm 1999 và 2008 trở lại đây.

Trong giai đoạn sau này thực sự chúng ta phải đi vay để đầu tư và tiêu dùng, một điều hết sức nguy hiểm. Có thể nói sự bất cân đối giữa đầu tư và tiêu dùng này sẽ có tác động xấu (đến sức lao động, đến vốn con người, gây ra bất công giữa các thế hệ trong thời gian dài).

Tăng để dành nội địa so với tăng đầu tư

Quy tắc thứ tư liên quan đến mối quan hệ giữa đầu tư và tiết kiệm (để dành). Nếu tăng đầu tư nhanh hơn tăng tiết kiệm thì nợ nần sẽ gia tăng. Bảng 1 cho biết tỷ lệ đầu tư và để dành (tính bằng phần trăm của GDP) diễn biến ra sao từ năm 2002-2009.

Có thể thấy đầu tư luôn lớn hơn phần để dành suốt một thời gian dài. Hơn thế nữa mức tăng đầu tư nhanh, trong khi mức để dành lại giảm (từ 2006 đến nay).

Diễn biến lạm phát

Lạm phát là hệ quả của việc tuân thủ bốn quy tắc vàng ở trên. Nếu nền kinh tế phát triển cân đối, hiệu quả thì sẽ có tăng trưởng lành mạnh và lạm phát sẽ ở mức thấp. Diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng (của tháng 12 năm báo cáo so với một năm trước đó – CPI) phản ánh sự phát triển thiếu cân đối của nền kinh tế (xem biểu đồ 4).

Có thể thấy CPI biến động rất thất thường, nhưng luôn ở mức một con số từ năm 1996-2006. Diễn biến lạm phát từ năm 2007 đến nay hết sức đáng lo ngại và là một dấu hiệu của tình hình bất ổn vĩ mô kinh niên của Việt Nam. Vài nhận xét và giải pháp đề xuất

Từ phân tích trên có thể thấy rõ rằng ba trong bốn quy tắc của sự phát triển cân đối đã bị vi phạm trong thời gian dài hàng thập kỷ. Tuy quy tắc về tăng trưởng GDP có vẻ được thỏa mãn, song việc chạy theo con số tăng trưởng bằng mọi giá lại khiến cho quy tắc này thực sự chưa được tôn trọng, tăng trưởng không lành mạnh.

Thành công lớn nhất của đổi mới ở Việt Nam là đã để cho các tác nhân kinh tế lấy lại quyền tự do. Và có thể nói cho đến 2006, sự “cởi trói”, sự “trả lại quyền tự do kinh tế” cho nhân dân đã phát huy hết nội lực của nó, cần được chuyển sang một giai đoạn phát triển khác, cao hơn. Nếu không có thay đổi tận gốc rễ về tư duy, thay đổi căn bản về đường hướng và chính sách phát triển, thì năm năm tới kinh tế Việt Nam sẽ chưa hết khó khăn.

Tái cơ cấu nền kinh tế là cụm từ được nhắc đến nhiều, song việc tiến hành không được là bao.

Căn bệnh kinh niên của nền kinh tế cần phải được xem xét lại một cách thấu đáo. Và khi đã bắt trúng bệnh, phải chịu đau, phải kiên quyết vứt bỏ các khối u ác tính để chữa lành căn bệnh.

____________

(*) Trích báo cáo tại tọa đàm của Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Hà Nội 12-7-2011

(**) Xem J. Kornai, Lịch sử và những bài học, NXB Tri Thức, 2008; http://www.kornai-janos.hu/online%20pub%20masnyelv.html, Bài học chuyển đổi ở đông Âu, trang 129.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới