Thứ Sáu, 9/12/2022, 01:48
28 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo



Cải cách điều kiện kinh doanh, vấn đề là quy trình

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Cải cách điều kiện kinh doanh, vấn đề là quy trình

Đậu Anh Tuấn

(TBKTSG) – Theo báo cáo của Chính phủ mới đây, Chính phủ đã yêu cầu các bộ, ngành phải xây dựng, sửa đổi, bổ sung để trình cấp có thẩm quyền ban hành 70 văn bản (19 luật, 51 nghị định) nhằm đơn giản hóa, cắt giảm 3.794/6.191 điều kiện kinh doanh.

Cải cách điều kiện kinh doanh, vấn đề là quy trình
Làm thủ tục tại Cục Thuế TPHCM. Ảnh: MINH TÂM

Thời gian qua, mặc dù đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, thể hiện qua các con số thống kê về số điều kiện kinh doanh được đơn giản hóa, cắt giảm, bãi bỏ nhưng trên thực tế, tỷ lệ cắt giảm hay bãi bỏ thấp hơn so với tỷ lệ đơn giản hóa.

Cắt giảm chưa thực sự là xu hướng chủ đạo của chương trình này, đúng như đánh giá của các chuyên gia của Viện Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM). Có khá nhiều trường hợp chỉ là thay đổi câu chữ, cách diễn đạt, gộp các điều kiện nhỏ lại nhưng vẫn tính vào con số thành tích cắt giảm. Có thủ tục, cơ quan nhà nước phê duyệt phương án kinh doanh của doanh nghiệp với bốn loại hồ sơ. Đáng ra cần phải xem xét bỏ thủ tục này (cơ quan nhà nước có đủ khả năng để phê duyệt phương án kinh doanh hay không, doanh nghiệp có khai thật về phương án kinh doanh của mình không…) nhưng phương án cắt giảm chỉ đề xuất bỏ một trong bốn loại hồ sơ, và phương án này vẫn tính là một điều kiện được cắt giảm.

Quan trọng hơn là cần có cơ chế đảm bảo các chương trình cải cách điều kiện kinh doanh đạt được những kết quả bền vững. Kinh nghiệm trong 18 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp cho thấy việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh thường rất khó, rất lâu và cần quyết tâm chính trị rất cao. Trong khi đó, việc đặt ra các điều kiện kinh doanh có một thời gian lại rất dễ dàng. Chính vì vậy mà những thành quả của các chương trình cắt giảm giấy phép con trước đây nhanh chóng bị xóa bỏ bởi một quy trình ban hành văn bản chưa phù hợp. Giống như có một cái bể bơi, dọn sạch rác, đảm bảo bể bơi rất sạch nhưng nếu anh không có thiết bị lọc nguồn nước, không có cơ chế nào để kiểm soát nguồn nước chảy vào bể trong thời gian tới thì rõ ràng cái bể đấy sẽ nhanh chóng bẩn trở lại.

Bên cạnh việc cắt bỏ các điều kiện kinh doanh, cần phải có cơ chế “gác cổng”, chặn những quy định không phù hợp, tạo gánh nặng cho hoạt động kinh doanh.

Hiện nay, theo quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) thì các cơ quan như Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ có thể đóng vai trò thẩm định và thẩm tra các văn bản pháp luật được ban hành, nhưng thường các nơi này chỉ đánh giá được tính hợp pháp, thống nhất của văn bản là chính chứ chưa đánh giá và gác cổng được hết các tác động về kinh tế, xã hội của các quy định.

Rất đáng suy nghĩ khi các giao dịch kinh tế như hợp nhất, sáp nhập, mua lại… hay các hành vi tập trung kinh doanh khác của doanh nghiệp đều phải tiến hành các thủ tục đánh giá tác động và tuân thủ các thủ tục thẩm định chặt chẽ của Ủy ban Cạnh tranh. Thế nhưng, một quy định pháp luật có thể đặt ra các điều kiện kinh doanh, trao thị phần cho một số doanh nghiệp hay ngăn cản các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường lại có thể dễ dàng được thông qua, không tuân thủ các đánh giá, thẩm tra chặt chẽ và độc lập về tác động kinh tế, xã hội. 

Chính vì vậy, cần sửa đổi quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nếu quy định pháp luật chứa điều kiện kinh doanh thì quy định này cần trải qua các thủ tục đánh giá tác động kỹ lưỡng, thẩm định độc lập bởi các cơ quan độc lập. Luật Đầu tư 2014, tại điều 7, có giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết về kiểm soát điều kiện đầu tư, kinh doanh nhưng cho đến nay Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn chưa thực hiện yêu cầu này. Nghị định về công bố và kiểm soát điều kiện đầu tư, kinh doanh do vậy vẫn chưa thành hình trên thực tế dù Luật Đầu tư đã có hiệu lực hơn ba năm.

Việc soạn thảo, rà soát, sửa đổi các điều kiện kinh doanh, giấy phép kinh doanh hiện nay thường do chính các đơn vị đang thực hiện cấp phép chịu trách nhiệm. Từ kinh nghiệm trong nhiều chương trình cải cách giấy phép kinh doanh của chúng tôi thì những đơn vị đang có thẩm quyền cấp phép thường rất không muốn và rất trì hoãn trong việc đưa ra phương án cắt giảm thực chất và thay đổi mạnh mẽ hình thức quản lý. Sự xung đột lợi ích này tạo ra cản trở lớn cho quá trình cải cách cắt giảm điều kiện kinh doanh của Chính phủ.

Cho nên, chủ trì soạn thảo, rà soát cắt giảm điều kiện kinh doanh nên là đơn vị độc lập. Có thể việc chọn một đơn vị nằm ngoài, độc lập với chính bộ, ngành đó chưa khả thi nhưng hoàn toàn có thể chọn một đơn vị thuộc bộ, ngành nhưng có vị thế tương đối độc lập như Vụ Pháp chế hay viện nghiên cứu thuộc bộ. Nếu các đơn vị này chưa am hiểu lĩnh vực chuyên môn, họ có thể tham vấn các cơ quan quản lý hay chuyên gia. Cách nhìn độc lập có thể đưa ra một cách thức quản lý mới, không nhất thiết là cấp phép hay đặt ra điều kiện kinh doanh như thói quen của nhiều cơ quan quản lý nhà nước. 

Ngoài ra, để thực hiện chương trình cắt giảm điều kiện kinh doanh triệt để hơn, cần gắn việc này với trách nhiệm cá nhân. Thời gian qua cho thấy, bộ ngành nào người đứng đầu thực hiện quyết liệt, tích cực thì việc cắt giảm diễn ra mạnh mẽ. Bên cạnh đó, cần có đánh giá độc lập, giám sát việc thực hiện quá trình cắt giảm này. Tránh tình trạng chạy theo con số, thành tích mà ở đó người dân, doanh nghiệp không được hưởng lợi.

Những cơ quan chủ trì và tham mưu giúp Chính phủ thực hiện thúc đẩy chương trình cắt giảm điều kiện kinh doanh cũng cần thúc đẩy các hoạt động đánh giá độc lập để thấy được đánh giá của người dân và doanh nghiệp như thế nào. Một số bộ đưa ra các khẩu hiệu rất to tát, những con số mục tiêu rất lớn và ấn tượng nhưng liệu đã có hiệu ứng, chuyển biến trên thực tiễn hay chưa? Cần lấy hiệu ứng thực tiễn, lấy những tác động thực tiễn làm tiêu chuẩn cuối cùng để đánh giá chương trình này có thực sự thành công hay không, hay lĩnh vực nào, bộ ngành nào đã tạo được chuyển biến thực chất. Rất cần có tổng kết mỗi năm một bộ đã ban hành hay tham mưu ban hành bao nhiêu văn bản có chất lượng tốt, bao nhiêu văn bản tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế. 

Rất nhiều nghị định về điều kiện kinh doanh ban hành trong năm 2018 đã đi theo hướng cải cách, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh. Có thể kể ra như Nghị định 15 thay thế Nghị định 38 năm 2012 hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm, Nghị định 25 thay thế Nghị định 60 năm 2014 về kinh doanh ngành in, Nghị định 87 thay thế Nghị định 19 năm 2016 về kinh doanh khí, Nghị định 107 thay thế Nghị định 109 năm 2011 về kinh doanh xuất khẩu gạo… 

Cho đến nay, các bộ đã trình ban hành được 22 văn bản (một luật và 21 nghị định), đã cắt giảm, đơn giản hóa được 3.004/6.191 điều kiện kinh doanh. Theo đánh giá của Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã cắt giảm 675/1.216 điều kiện, vượt 5,5%; Bộ Y tế đơn giản hóa, cắt giảm 1.343/1.871 điều kiện, vượt 21,78%; Bộ Xây dựng cắt giảm 183/215 điều kiện, vượt 35,12%; Bộ Tài nguyên và Môi trường đơn giản hóa, cắt giảm 101/163 điều kiện, vượt 12%; Bộ Giáo dục và Đào tạo đơn giản hóa, cắt giảm 121/212 điều kiện, vượt 7,08%…

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới