Thứ Bảy, 2/07/2022, 00:39
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Cần thiết nhưng không thể cào bằng

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Cần thiết nhưng không thể cào bằng

Hà Quang Tuyến (1) – Bùi Trinh

(TBKTSG) – Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 0,93% so với tháng trước và bình quân tám tháng đầu năm 2011 tăng 17,64% so với tám tháng đầu năm 2010. Sự tăng giá khá cao của một số nhóm hàng hóa cho thấy một số vấn đề cần lưu ý sau:

Thứ nhất, từ đầu năm đến nay, tháng 8 là tháng có chỉ số giá tiêu dùng tăng dưới 1%, nhưng chỉ số này bình quân tám tháng đã lên tới 17,64% và nếu so với cuối năm 2010 đã xấp xỉ 16% (trong khi mục tiêu của Chính phủ đặt ra là 17% cho cả năm) và tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tuy chỉ số giá tháng 8 có tăng chậm hơn các tháng trước nhưng mức độ khó khăn của người dân vẫn tiếp tục tăng lên.

Thứ hai, chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản trong sáu tháng đầu năm 2011 so với bình quân sáu tháng năm 2010 tăng đến 27,6% và chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp là 16,7%. Trong khi đó, chỉ số CPI là 16% và đến hết tháng 8 xu hướng này chắc chắn vẫn còn tiếp diễn vì giá xăng dầu mới được giảm nhẹ, lãi suất tiền vay ngân hàng chưa giảm.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng giá nhưng một nguyên nhân không thể xem nhẹ là giá thành sản xuất tăng do tăng giá một số loại chi phí đầu vào chủ yếu. Theo tính toán cấu trúc chi phí từ bảng cân đối liên ngành thì ảnh hưởng trực tiếp từ các chi phí đầu vào của sản xuất (một số chuyên gia gọi là chi phí đẩy) như xăng, dầu, điện, than, lãi suất… đến giá thành là khoảng 4% và ảnh hưởng lan tỏa đến chu kỳ sản xuất tiếp theo khoảng 6%. Như vậy, có thể thấy nếu CPI là thước đo sự khó khăn của người dân thì các doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay còn khó khăn hơn nhiều.

Qua cuộc đối thoại chính sách trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1) và một số diễn đàn, phương tiện thông tin đại chúng khác, các chuyên gia và các nhà tư vấn chính sách có hai luồng ý kiến khác nhau. Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng cần tiếp tục thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ để tăng trưởng tín dụng cả năm chỉ khoảng 13-14% và luồng ý kiến thứ hai cho rằng đến cuối năm cần mở ra cho đủ “dư địa” của tăng trưởng tín dụng (20%).

Về ý kiến thứ hai, chúng tôi cho rằng tăng trưởng tín dụng sáu tháng đầu năm chỉ vào khoảng trên 7%, dư địa của chính sách này còn khá nhiều, nhưng quan trọng hơn cả là từ đầu năm đến nay mới quyết liệt chống lạm phát ở phần ngọn của vấn đề. Việc thắt chặt tiền tệ về bản chất là tác động vào quan hệ giữa tiền tệ và hàng hóa, lượng tiền nhiều hơn lượng hàng hóa sản xuất ra. Nhưng gốc của vấn đề là từ khâu sản xuất và quan hệ cung cầu sản phẩm (vật chất và dịch vụ).

Tại sao lại phải giảm tổng cầu cuối cùng (C và I)? Trong trường hợp phía cung yếu kém thì phía tổng cầu cuối cùng cũng phần nào làm giảm mức độ tăng giá, nhưng căn bản hơn là làm phần cung mạnh lên. Quan hệ Keynes – Leontief chỉ ra rằng khi tăng một đồng từ phía cầu sẽ kích thích lan tỏa đến phía cung, từ đó lan tỏa tiếp đến thu nhập(2), khi thu nhập tăng lên thì sức mua sẽ tăng lên và để dành của nội bộ nền kinh tế(3) cũng tăng lên và hiển nhiên là nợ nần sẽ giảm đi.

Như vậy, tại sao lại cắt giảm đầu tư công ? Đó là vì đầu tư công không hiệu quả, thay vì thúc đẩy sản xuất thì nó lại trở thành nguyên nhân gây lạm phát và bất ổn vĩ mô ngày càng trầm trọng.

Vì vậy, gốc rễ của lạm phát và các bất ổn vĩ mô khác là do nền sản xuất quá yếu kém, nay lại liên tiếp gặp khó khăn, không chỉ khiến các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà cả những doanh nghiệp lớn cũng gặp vô vàn trắc trở, điều này kéo dài có thể khiến những bất ổn vĩ mô ngày càng trầm trọng. Khi bất ổn vĩ mô không được giải quyết thì niềm tin của người dân vào đồng tiền Việt Nam đã sụt giảm sẽ ngày càng sụt giảm hơn, rồi sẽ dẫn đến việc ảnh hưởng tỷ giá.

Theo Ngân hàng Nhà nước, từ nay đến cuối năm lãi suất có thể giảm xuống còn từ 17-19%. Việc này là cần thiết nhưng cũng nên hết sức thận trọng, vì không thể cào bằng và cũng không nên ưu tiên giảm lãi suất cho một số ngành (hoặc hoạt động) khi chưa tính toán kỹ lưỡng xem ngành nào có độ lan tỏa đến sản xuất nội địa cao, đến nhập khẩu thấp sẽ được ưu tiên hơn các nhóm ngành khác. Chẳng hạn khi ưu tiên cho xuất khẩu cũng không nên ưu tiên cho bất cứ loại hàng hóa nào, vì có khá nhiều nhóm hàng càng xuất khẩu chỉ càng làm lan tỏa đến nhập khẩu mà thôi.

Thứ ba, cần thống nhất trong cách tính toán và điều hành xuất nhập khẩu và chỉ số giá vàng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vàng ở đây đa phần là vàng phi tiền tệ, vì vậy các chính sách can thiệp cần theo hướng coi vàng là phi tiền tệ. Đối với người dân, từ lâu họ xem vàng như một loại hàng hóa quý hiếm và đồng thời cũng có giá trị như tiền. Nếu coi vàng là tiền tệ thì không thể tính xuất khẩu vàng như xuất khẩu hàng hóa để tính vào GDP. Còn nếu coi vàng là hàng hóa thì các biện pháp can thiệp của Ngân hàng Nhà nước đến giá vàng như hiện nay là phi thị trường.

__________________________________________

(1) Vụ trưởng Vụ Hệ thống tài khoản quốc gia – TCTK – Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

(2) Nhưng nếu tổng cung không đủ năng lực thì chỉ làm tăng giá mà thôi.

(3)  Để dành là nguồn cơ bản để tái đầu tư.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới