Chủ Nhật, 24/10/2021, 20:05
25 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Châu Á và Úc hưởng lợi từ khủng hoảng năng lượng Trung Quốc

Ricky Hồ

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG Online) – Cổ phiếu của các hãng khai thác mỏ châu Á lên như diều khi Trung Quốc đang đói năng lượng và gián đoạn chuỗi cung ứng đã đẩy giá than tăng vọt. Sự ưu ái đối với than – từng được xem là “năng lượng bẩn” – được nhen nhóm trở lại giữa lúc toàn cầu thúc đẩy năng lượng sạch, khiến các hãng khai mỏ phân vân. Liệu có nên tăng sản lượng loại hàng hóa này và tăng như thế nào là đủ?

Mỏ than đang hoạt động ở Newcastle, bang New South Wales của Úc. Các hãng than Úc và châu Á đang hưởng lợi lớn từ khủng hoảng năng lượng hiện nay. Ảnh: Getty Images

Cổ phiếu “đen” trở nên xanh

Giá cổ phiếu của Bumi Resources – hãng khai thác than lớn nhất của Indonesia – đã tăng hơn 70% kể từ cuối tháng 8. Trong khi đó hãng đồng hương Adaro Energy và Indika Energy có mức tăng lần lượt 50% và 74%. Indonesia là quốc gia xuất khẩu than nhiệt điện lớn nhất thế giới, với 400 triệu tấn trong năm 2020, chiếm 40% sản lượng toàn cầu.

“Bất chiến tự nhiên thành” cũng diễn ra với các hãng Úc và Ấn Độ. Cổ phiếu của Yancoal Australia – hãng con thuộc Yanzhou Coal Mining của Trung Quốc – đã tăng trên 80% kể từ cuối tháng 8. Riêng giá cổ phiếu của hãng sản xuất than lớn nhất thế giới Coal India tăng 30%.

Những đợt tăng này đối ngược lại với các chỉ số chuẩn toàn cầu. Các chỉ số MSCI World và MSCI All Country Asia Pacific đang ở vùng đỏ khi so với cuối tháng 8. Các chỉ số nhóm bluechip CSI 300 của Trung Quốc và Nikkei Stock Average ở Nhật Bản đang theo đường nằm ngang.

Các nhà đầu tư cũng bỏ vốn đậm hơn để mua cổ phiếu của các hãng khai thác than khi mùa đông đang đến gần. Lúc đó, các nhà máy nhiệt điện than có xu hướng phải chạy hết công suất.

Mỏ than gặp khó khi tăng sản lượng

Giá than đã tăng hơn ba lần kể từ đầu năm, với giá than nhiệt điện chuẩn ở châu Á đã đạt đỉnh kỷ lục 269 đô la mỗi tấn. Đường tăng tiến về giá chủ yếu được dẫn dắt bởi nhu cầu ở Trung Quốc và Ấn Độ – hai quốc gia tiêu thụ nhiều than nhất thế giới. Cả hai đều gia tăng nỗ lực tích trữ than nhập khẩu nhằm giải quyết nguồn cung nội địa hạn chế.

Tại Trung Quốc, chính quyền các cấp đã hạn chế hoạt động khai mỏ sau nhiều tai nạn chết người ở nhiều mỏ trong năm nay. Bắc Kinh cũng cải tổ chính sách, không khuyến khích các mỏ nhỏ không đủ chuẩn an toàn.

Tại Ấn Độ, mưa lớn trong suốt mùa từ tháng 6 đến tháng 9 đã làm sản xuất và vận chuyển than bằng đường sắt bị gián đoạn. Lượng than trữ xuống mức thấp kỷ lục – nhà chức trách gọi là “mức nguy hiểm”.

Bên cạnh hai gã “ăn” than khổng lồ, các nước châu Âu cũng quay sang chọn than để sản xuất điện bởi giá khí đốt đang tăng kỷ lục.

Giá than khá rẻ. Trước đà tăng giá năm nay, giá than thường chỉ khoảng 1/3 giá khí thiên nhiên hóa lỏng – theo Hiroshi Hashimoto, chuyên gia về khí đốt và nhà phân tích cấp cao thuộc Viện Kinh tế năng lượng tại Nhật Bản.

Nhưng áp lực giảm dần tiêu thụ than để chuyển sang các nguồn năng lượng thân thiện môi trường đồng nghĩa rằng đầu tư vào khai thác mỏ sẽ ít đi. Sự chuyển đổi từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch cũng khiến các hãng than thận trọng hơn khi mở rộng đầu tư. Tất cả khiến lượng than thành phẩm càng ít đi.

“Các nước đang xoay xở tìm mua than, nhưng số lượng nhà xuất khẩu lại hạn chế”, nhà phân tích Nobuyuki Kuniyoshi của Công ty Kim loại và dầu khí Nhật Bản (Jogmec) cho biết.

Hai nhà xuất khẩu than lớn nhất – Úc và Indonesia – cũng gặp khó khăn trong việc tăng sản lượng bởi mưa lớn và thiếu lao động do ảnh hưởng của dịch Covid.

Nhà xuất khẩu than lớn thứ ba thế giới là Nga đang tăng lượng than bán cho Trung Quốc và châu Âu. Theo Bộ Năng lượng Nga, xuất khẩu than từ tháng 1 đến tháng 8-2021 đã đạt 142 triệu tấn, tăng 11% so với tổng lượng xuất khẩu năm 2019. Nga đã trở thành “cứu tinh” của Trung Quốc khi Bắc Kinh dừng nhập khẩu than từ Úc mặc cho sự phản đối của Canberra.

Chuyên gia Kuniyoshi của Jogmec tin rằng Indonesia và Úc sẽ khó có thể tăng sản lượng khai thác than bởi chỉ một số ít công ty sẵn sàng chịu rủi ro để đầu tư vào mỏ than.

Người phát ngôn của hãng Bumi Resources ở Indonesia nói với Nikkei Asia rằng công ty dự định duy trì mục tiêu sản xuất 83-87 triệu tấn cho năm tài khóa 2021, không màng đến tình trạng thiếu hụt và giá than tăng cao hiện nay.

Bumi nói rằng họ nhận ra áp lực toàn cầu gia tăng đối với các hạn mức phát thải khí CO2, nhưng cũng đầy cảnh giác trước viễn cảnh hỗn loạn trong giai đoạn chuyển tiếp. “Nếu không có bất cứ kế hoạch tìm nguồn năng lượng giá rẻ nào thay thế, các bước đi quá khích hay hấp tấp để giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch có thể gây các hậu quả kinh tế và xã hội kinh khủng.

Nếu không có nguồn cung thay thế đáng tin cậy, nhu cầu than ở châu Á sẽ tiếp tục tăng, đẩy giá than lên cao trong tương lai trung hạn và thậm chí dài hạn”, người phát ngôn Bumi nói.

Tại Úc, chính phủ gần đây đã phê chuẩn nhiều dự án khai thác than mặc cho sự phê phán và chống đối của những người theo phong trào chống biến đổi khí hậu. Tuần trước, dự án mở rộng mỏ than của Glencore đã được phê duyệt.

Giá than đã tăng hơn ba lần trong năm nay, tính theo đô la mỗi tấn. Đồ họa: QUICK-Factset

Các mục tiêu năng lượng sạch bị đe dọa

Giá than và nhu cầu năng lượng gia tăng có thể đe dọa các tiến bộ đã đạt được với các mục tiêu môi trường. Nhà phân tích Justian Rama thuộc hãng Citigroup Securities ở Indonesia dự báo rằng giá tăng sẽ duy trì mức giá cao trên 200 đô la mỗi tấn, trong ít nhất những tháng cuối năm nay. “Giá than cao hiện nay có thể buộc Trung Quốc nới lỏng các quy định môi trường để cải thiện nguồn cung và gỡ bỏ lệnh cấm nhập than từ Úc”, Rama nói.

Tuy nhiên, các mục tiêu môi trường đang có ảnh hưởng không tích cực với cán cân cung cầu năng lượng – nhà phân tích trưởng Shirley Wang thuộc hãng Wood Mackenzie nhận định.

“Chính sách khí hậu có ảnh hưởng ngay lập tức đối với nguồn cung hơn là nhu cầu. Quá trình chuyển đổi sử dụng năng lượng vẫn tiếp diễn, giá năng lượng tăng động và mất cân bằng thị trường sẽ diễn ra thường xuyên trong vài năm tới, đặc biệt là trong những mùa nhu cầu tăng đột biến”, bà Wang nói.

Trong bối cảnh thiếu hụt năng lượng diện rộng, Trung Quốc đã nới lỏng các lệnh cấm khai thác mỏ và đưa các mỏ đã đóng cửa sản xuất trở lại.

Chuyên gia Hoàng Minh của S&P Global Ratings tại Singapore cho rằng châu Á bị tụt hậu so với châu Âu và Mỹ trong chuyển tiếp sang năng lượng sạch. Lý do: Các nước đang phát triển phụ thuộc vào nguồn than và các loại nhiên liệu hóa thạch khác nhiều hơn bởi giá rẻ.

“Trong khi nhu cầu than ở các khu vực như châu Âu và Mỹ được xem là suy giảm trong các năm tới, chúng tôi cho rằng nhu cầu sẽ tăng ở châu Á, đặc biệt ở các thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á”, nhà phân tích nói.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới