Thứ Tư, 24/07/2024
35.6 C
Ho Chi Minh City

Coi chừng nhận định phiến diện

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Coi chừng nhận định phiến diện

Trần Ngọc Thơ

Coi chừng nhận định phiến diện
Người ta thường cho rằng chính sách tiền tệ đóng vai trò chính trong việc làm dịu đi các yếu tố mang tính chu kỳ của nền kinh tế chứ không tác động trực tiếp đến tăng trưởng GDP. Ảnh: Uyên Viễn

(TBKTSG) – Tốc độ tăng trưởng tín dụng mấy năm trước mấy chục phần trăm mà tốc độ tăng trưởng GDP cũng chỉ khoảng 7%, nay tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm đi đáng kể mà GDP cũng tăng xấp xỉ chừng đó, là sao?

Thường người ta có thể lý giải bằng cách so sánh tốc độ tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng GDP trong một số năm. Nếu thấy cả hai đều tăng thì đó là có quan hệ nhân quả, A tăng kéo theo B tăng.

Cách so sánh hai hiện tượng đơn lẻ thật ra là cần thiết mặc dù không phải quan trọng lắm để giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội. Đó chỉ mới là bước khởi đầu để ta có cảm nhận về dữ liệu nghiên cứu chứ còn dùng để đưa ra kết luận thì không ai làm như thế. Để có thể luận giải thuyết phục, cần phải đưa thêm nhiều nhân tố và bài thử nghiệm khác vào mô hình của mình rồi sau đó mới tiếp tục chứng minh sao cho thật thuyết phục các nhân tố đó, trong đó có tăng trưởng tín dụng, có liên quan và tác động lớn nhỏ như thế nào với GDP.

Bây giờ ta hãy trở lại trường hợp đặt ra ở đầu bài. Tín dụng tăng thấp, 7,26% trong chín tháng đầu năm, vẫn hỗ trợ GDP tăng 5,62% cùng thời gian này? Liệu rằng có phải tín dụng đã vào đúng địa chỉ như nhận định của đại diện Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại phiên trả lời chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hồi cuối tháng 9 vừa qua?

Trước hết, làm sao đo được số lượng, chất lượng tín dụng cũng như thời điểm phát huy hiệu ứng truyền dẫn từ tốc độ tăng trưởng trong cung tiền, rồi dẫn đến tốc độ tăng trưởng tín dụng (mặc dù tăng trưởng cung tiền có dẫn đến tăng trưởng tín dụng hay không lại là một vấn đề khác mà bài này chưa bàn đến), và sau đó từ tín dụng lại lan truyền đến tăng trưởng. Nếu thật sự cung ứng tín dụng có truyền dẫn đến GDP cũng phải mất thời gian, có khi cả năm. Vậy làm sao khẳng định tín dụng đúng địa chỉ và tạo hiệu ứng GDP tăng lên trong ba quí đầu năm nay và quí còn lại.

Ở các nước phát triển, mỗi khi công bố điều gì các nhà kinh tế ở ngân hàng trung ương luôn hàm ý nhận định của mình đều dựa trên nghiên cứu thực chứng để phát tín hiệu đến thị trường và đưa ra các quyết định. Vậy mà họ vẫn còn phán đoán sai.

Còn ở Việt Nam, những phát biểu của các nhà điều hành thị trường hoặc là phần nhiều cảm tính, hoặc nếu có nghiên cứu thì độ tin cậy cũng rất thấp. Các nhận định của họ vì vậy chủ yếu để giải trình trước Quốc hội, nơi mà không có nhiều vị đại biểu có khả năng chuyên môn sâu để phản biện.

Tôi thử vào trang web của NHNN để kiểm tra thử nhận định của mình và quả thật không thấy bất kỳ nghiên cứu học thuật nào về chính sách tiền tệ giống như nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới mà chỉ thấy toàn là văn bản pháp quy. Làm sao mà các nhà hoạch định chính sách ở NHNN chỉ chuyên về các văn bản hành chính lại có thể nhận định chính xác, khách quan và có độ tin cậy cao các vấn đề liên quan đến cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ.

Bây giờ lấy ví dụ thực tế cho dễ hình dung về nhận định thiếu cơ sở nói trên. Giả dụ NHNN biết với một xác suất nào đó là 1 đồng tín dụng chạy tới công ty A. Nhưng sau đó 1 đồng tín dụng này không đi vào sản xuất của công ty A đó mà được dùng để trả nợ cho công ty B vì B đã cung ứng tín dụng cho A trước đó qua việc bán nguyên liệu cho A chẳng hạn. Tiếp tục B lại trả nợ cho C và cứ như thế… Vậy làm sao đo được hiệu ứng này để tính ra 1 đồng tín dụng tạo ra được bao nhiêu GDP? Đó là chưa kể 1 đồng này nếu rơi vào các doanh nghiệp nhà nước có khi lại mất trắng, hoặc chảy vào bong bóng bất động sản hoặc chứng khoán và sẽ tạo ra tiếp bong bóng dẫn đến lạm phát. Và đến lượt nó, lạm phát cao có khi lại làm cho các công ty A, B, C trên kia cắt giảm sản xuất do nhu cầu của xã hội giảm đi và cuối cùng GDP sụt giảm mặc dù tín dụng tăng lên.

Vấn đề thứ hai, liệu tăng trưởng tín dụng có phải là yếu tố tạo ra GDP.

Đây là luận điểm khó thuyết phục mọi người nhất vì cho đến nay yếu tố tiền tệ và tín dụng, tức chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, có tác động đến tăng trưởng hay không vẫn là chủ đề gây nhiều tranh luận trong giới học thuật trên thế giới. Thông thường mọi người vẫn dễ chấp nhận với nhau rằng chính sách tiền tệ đóng vai trò chính trong việc làm dịu đi các yếu tố mang tính chu kỳ của nền kinh tế chứ không phải tác động trực tiếp đến tăng trưởng GDP.
Ví dụ như khi nền kinh tế phát triển quá nóng thì NHNN thắt chặt cung tiền, từ đó làm giảm tín dụng để tránh đưa nền kinh tế vào nguy cơ đổ vỡ. Hoặc khi nền kinh tế suy trầm như hiện nay thì NHNN phải giảm lãi suất, tăng cung tiền tệ để tránh cho nền kinh tế chìm sâu hơn nữa vào suy thoái.

Nhận định tín dụng đúng địa chỉ nên tạo ra tăng trưởng GDP của NHNN cũng giống như nói một anh chàng bị bệnh tim là do uống nhiều cà phê mà ra, trong khi thực ra anh ta bị cao huyết áp. Bốc thuốc theo toa của NHNN để tăng cung tiền tệ và tín dụng không khéo tăng trưởng đâu không thấy mà có khi thấy lạm phát quay đầu trở lại.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới