Thứ Năm, 25/07/2024
35.6 C
Ho Chi Minh City

Để người nghèo bớt khổ!

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Để người nghèo bớt khổ!

Thanh Phương

Hệ thống phúc lợi hiện nay ở TPHCM vẫn chưa đảm bảo yêu cầu tái phân phối thu nhập xã hội theo hướng công bằng với mọi người dân và người nghèo vẫn chịu thiệt trong việc thụ hưởng các dịch vụ công như y tế, giáo dục… Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG) – Thực tiễn ở TPHCM trong những năm gần đây cho thấy hộ càng nghèo thì càng ít được thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi xã hội (dịch vụ công). Những nỗ lực xóa đói giảm nghèo sẽ càng ý nghĩa nếu hệ thống phúc lợi xã hội được nghiên cứu cải tổ theo hướng chú trọng hỗ trợ trước hết cho tầng lớp nghèo nhất, dễ bị tổn thương nhất.

Nghèo còn chịu thiệt!

Theo kết quả cuộc khảo sát về phúc lợi xã hội ở TPHCM kết thúc hồi cuối năm 2008 (trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu về “Hệ thống phúc lợi ở TPHCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội” của Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM), trong tổng chi xã hội cho giáo dục năm 2006, phần chi của ngân sách nhà nước chỉ chiếm 34%, còn các hộ gia đình phải chi tới 66%.

Theo Tiến sĩ Trần Hữu Quang, chủ nhiệm đề tài, “hộ càng nghèo thì chi phí cho giáo dục của con em càng là gánh nặng đối với ngân sách chi tiêu của gia đình, và càng nghèo thì con em càng phải nghỉ học sớm hơn”.Số liệu tại khu vực nội thành và dựa trên mức thu nhập cho biết mức chi cho giáo dục bình quân mỗi hộ năm 2007 ở nhóm nghèo nhất (theo ngũ phân) là gần 4 triệu đồng, chiếm hơn 11% trong tổng chi tiêu của gia đình, trong khi con số này ở nhóm giàu nhất là gần 9 triệu đồng nhưng chỉ chiếm có 8% trong tổng chi tiêu.

Một số liệu đáng quan tâm khác là tỷ lệ thanh thiếu niên từ 15-17 tuổi thuộc nhóm nghèo nhất còn tiếp tục đi học ở năm học 2008-2009 là 66% và chỉ là 41% ở độ tuổi 18-21. Tỷ lệ cao nhất thuộc về nhóm cận giàu, tương ứng là 92% và 73%.

Tình hình cũng diễn ra tương tự đối với chi phí cho y tế và chăm sóc sức khỏe. Chi cho y tế năm 2008 của nhóm nghèo nhất chiếm 8,6% trong tổng chi tiêu của hộ gia đình, trong khi ở nhóm giàu nhất chỉ chiếm 4%. Đặc biệt, mức chi phí chữa bệnh nội trú bình quân một bệnh nhân thuộc nhóm nghèo nhất chiếm đến 83%, tức chiếm gần hết số thu nhập trong năm!

Ông Quang cho rằng những số liệu này phần nào đã phản ánh đặc điểm về mức sống của người nghèo đô thị, đó là khả năng tài chính eo hẹp trong một môi trường giá cả sinh hoạt đắt đỏ, khiến gánh nặng chi phí đè nặng lên gia đình ngay cả cho những nhu cầu thiết yếu nhất, và phần lớn họ đều phải sử dụng các dịch vụ giá rẻ, chất lượng thấp. Tuy nhiên, điều đáng bàn hơn là tình trạng bất bình đẳng trong thụ hưởng phúc lợi xã hội.

Nói cách khác, dịch vụ cung ứng phúc lợi xã hội đã bộc lộ tính chất thiên vị cho những tầng lớp trung lưu và khá giả. Số liệu khảo sát tình hình phân bổ kinh phí bảo hiểm y tế đã minh chứng cho nhận định này, theo đó, hai nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa tới một phần năm trong tổng kinh phí bảo hiểm y tế chi trả cho bệnh nhân hàng năm (18%), ngược lại, hai nhóm khá giả nhất lại hưởng hơn một nửa (57%). Đó là chưa kể chỉ có 54% trên tổng số 4.471 người trong diện khảo sát là có thẻ bảo hiểm y tế, trong đó, hầu hết thuộc diện bắt buộc và tự nguyện, chỉ có 7% thẻ bảo hiểm cho diện nghèo, chính sách, cao tuổi…

Theo ông Quang, phần lớn lao động thuộc khu vực phi chính thức đều không có thẻ bảo hiểm y tế!Trong lĩnh vực giáo dục, TPHCM là nơi đặt mục tiêu tỷ lệ phổ cập giáo dục rất cao so với các địa phương khác nhưng tình trạng bỏ học vì nghèo vẫn nhiều. Ông Quang cho rằng chính việc tìm cách gia tăng nguồn chi tiêu của người dân vào nền giáo dục công lập đã góp phần gây ra tình trạng bất bình đẳng về cơ hội cũng như về điều kiện học tập, “không chỉ gây thiệt thòi cho những gia đình khó khăn mà còn làm lãng phí nguồn lực trí tuệ nơi con em những gia đình nghèo”.

Ai là người nghèo?

Theo nhóm khảo sát, xét một cách tổng quát thì hệ thống phúc lợi ở TPHCM chưa đảm bảo yêu cầu tái phân phối thu nhập xã hội theo hướng tiến bộ và công bằng xã hội. Trong đó, các thành tố quan trọng (như y tế, giáo dục) đang có xu hướng ngày càng bị “hàng hóa hóa” các dịch vụ phúc lợi và người càng nghèo thì càng khó tiếp cận.

Thực ra, theo một số chuyên gia nghiên cứu tình trạng nghèo ở các đô thị Việt Nam, những câu hỏi như “ai là người nghèo?”, “ai nghèo nhất, nghèo như thế nào?”, cho đến nay vẫn chưa có sự trả lời chuẩn xác, bởi diện nghèo được đưa vào phần lớn các cuộc điều tra từ trước đến nay làm cơ sở cho các chính sách hỗ trợ đều nằm trong diện có đăng ký, cụ thể là đăng ký tạm trú ít nhất sáu tháng. Cách chọn mẫu này đã gạt ra bên ngoài số dân nhập cư không đăng ký, thậm chí là biến động mỗi ngày. Số người này nhiều hay ít? Họ có phải là tầng lớp nghèo nhất trong đời sống đô thị?

Theo bà Đinh Vũ Trang Ngân, giảng viên Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, người đã có hơn một năm nghiên cứu vấn đề lao động đô thị và người nhập cư ở TPHCM, có quá nhiều điều chưa biết về những người nhập cư trong khi đây là một bộ phận cấu thành đời sống đô thị hôm nay. Có khả năng đây mới là những người nghèo nhất, dễ bị tổn thương nhất và cần được hỗ trợ nhiều nhất, và chỉ với một ít thông tin liên quan mang tính lượm lặt chung quanh đối tượng này thì chưa đủ cơ sở cho một chiến lược giảm nghèo đô thị.

Bà Ngân cho biết đây cũng chính là động lực cho việc tiến hành khảo sát các đối tượng “ngoài vùng thống kê” mà nhiều tổ chức đang muốn thực hiện, trong đó có Chương trình Fulbright.

Tại bài viết bằng tiếng Anh trên tạp chí Journal of Vietnamese Studies năm 2007 về chủ đề “Lượng hóa tình trạng nghèo ở Việt Nam” của hai tác giả là Tiến sĩ Jonathan Pincus và Giáo sư John Sender, hai ông đã lưu ý việc chiến lược an sinh xã hội chỉ tính đến những người có đăng ký chính thức là không hợp lý. Ở góc độ pháp lý, điều này thể hiện người nhập cư ngắn hạn bị ngầm hiểu là bất hợp pháp, và do đó, trong công tác thống kê, chính quyền các cấp đều không muốn thừa nhận trên địa bàn của mình đang có một lượng dân nhập cư không hợp pháp!

Do vậy, kiến nghị đầu tiên mà TBKTSG ghi nhận được từ ý kiến của các chuyên gia là các giải pháp hỗ trợ nghèo khổ cần phải dựa trên các số liệu điều tra có tính đến đối tượng nhập cư dài hạn cũng như ngắn hạn.

Vì người nghèo!

Bên cạnh đó, nhiều giải pháp hỗ trợ khác đã được đề cập. Về y tế, ông Trần Hữu Quang kiến nghị TPHCM cần tính toán thực hiện ngay việc mở rộng một số diện bảo hiểm y tế, đặc biệt đối với những ngành nghề lao động tự do như hộ tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ, thợ xây dựng, lái xe ôm, xe ba gác…

“Thành phố cũng nên khuyến khích phát triển các loại hình bảo hiểm y tế tư nhân nhằm vận động sự đóng góp và tiếp sức của các tổ chức từ thiện”. Tương tự, tác giả Nguyễn Hải Hữu trong bài viết “Cuộc chiến chống nghèo đói – thực trạng và giải pháp” (“Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở TPHCM – Lý luận và thực tiễn”, NXB Khoa học Xã hội) cho rằng Nhà nước “cần tính toán nâng mức đầu tư công vào việc đa dạng hóa các hình thức khám chữa bệnh cho người nghèo; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế khám chữa bệnh nhân đạo, miễn phí và mua bảo hiểm y tế cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em”.

Về giáo dục, ông Quang kiến nghị chính quyền thành phố nên xem xét mô hình giáo dục phổ thông miễn học phí và bãi bỏ hết các khoản thu trong học tập dành cho con em các gia đình cực nghèo. Một số chuyên viên làm công tác xã hội lưu ý rằng nhóm trẻ em nhập cư là đối tượng cần sự trợ giúp đặc biệt nhằm đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản với những trẻ em có hộ khẩu chính thức tại đô thị. Nếu không quan tâm đầy đủ, hậu quả tiếp theo của vấn nạn bỏ học do nghèo là tình trạng gia tăng đội ngũ lao động không có nghề nghiệp cũng như những tệ nạn xã hội khác không thể không giải quyết.

Ngoài ra, tín dụng cho người nghèo cũng là một nội dung rất đáng quan tâm. Theo tác giả Nguyễn Hải Hữu, cơ chế ưu đãi cho người nghèo như cho vay lãi suất thấp, không phải thế chấp là biện pháp trợ giúp hữu hiệu, giúp giảm dần khối lượng tiền vay nóng với lãi suất cao từ khối cho vay tư nhân. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi và bền vững, cần chuyển dần từ cơ chế ưu đãi bao cấp sang cơ chế gắn tín dụng với tiết kiệm.

Bên cạnh đó là việc khuyến khích phát triển các hình thức tín dụng – tiết kiệm có lợi cho người nghèo từ các tổ chức đoàn thể như quỹ xóa đói giảm nghèo, chương trình tín dụng của hội phụ nữ, quỹ giải quyết việc làm… Mặc dù vậy, cũng trong tài liệu “Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở TPHCM – Lý luận và thực tiễn”, tác giả Nguyễn Thị Mai Hương có nêu mặt hạn chế của các hình thức tín dụng này là tỷ lệ người nghèo được vay không cao do xét duyệt dựa trên hộ khẩu và các tiêu chí trợ vốn thường quá khắt khe, vượt quá khả năng đáp ứng của nhiều hộ nghèo. Thiết nghĩ đây cũng là vấn đề cần được nghiên cứu, điều chỉnh.

Theo bà Trang Ngân, những hình thức trợ giúp xã hội có tính ngắn hạn, thậm chí là tức thì một cách kịp thời là rất cần thiết đối với những người nghèo, bởi bên cạnh đặc điểm về kinh tế là thu nhập thấp, bấp bênh, người nghèo còn nhiều hạn chế về vốn xã hội như nghèo mối quan hệ, tính thụ động, thiếu tiếng nói, khả năng hợp tác thấp… Nhưng suy cho cùng, những biện pháp này cũng tương tự như “thuốc thoa ngoài da”.

Giải pháp giảm nghèo có tính căn bản và dài hơi hơn, theo bà Ngân, chính là tạo thu nhập ổn định cho họ mà hai hoạt động quan trọng, có ý nghĩa cơ bản là đào tạo nghề và tạo cơ hội việc làm cho người nghèo đô thị.

Quả thực, không thể gắn tư tưởng cạnh tranh cho một đối tượng vốn yếu thế trên thị trường lao động nếu muốn giải quyết một vấn đề xã hội lớn lao: Nghèo! Do vậy, sự phát triển của một đô thị không chỉ thể hiện ở bề mặt đường phố không còn hàng rong hay xe ba gác tự chế mà còn là số phận của những người nghèo mưu sinh từ những nghề này được giải quyết như thế nào đằng sau những cuộc “dọn dẹp” ấy.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới