Thứ Hai, 16/05/2022, 23:47
28 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Dịch ở Trung Quốc và nỗi lo của giới đầu tư quốc tế

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Dịch ở Trung Quốc và nỗi lo của giới đầu tư quốc tế

Hồ Quốc Tuấn (*)

(TBKTSG) – Không chỉ thị trường tài chính, mà cả nền kinh tế thế giới chao đảo, với tâm điểm là kinh tế Trung Quốc.

Trung Quốc sử dụng AI và dữ liệu để chống dịch nCoV

Dân Singapore đổ xô đi mua nhu yếu phẩm để đối phó nCoV

Dịch ở Trung Quốc và nỗi lo của giới đầu tư quốc tế
Công ty Coca-Cola cũng đã đóng cửa nhiều nhà máy ở Trung Quốc.

Dịch cúm do chủng virus corona mới, 2019-nCoV, bùng nổ ở Trung Quốc và lây lan ra toàn cầu đang là một trong những mối lo ngại cho cộng đồng quốc tế. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố tình trạng khẩn cấp y tế công cộng quốc tế (PHEIC), còn được gọi là tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu vào ngày 30-1-2020.

Số người bị nhiễm bệnh và số người chết vì chủng virus corona mới này ngày càng gia tăng.

Chứng khoán giảm, vàng tăng, sản xuất và tiêu dùng đình trệ

Sau khi WHO công bố tình trạng khẩn cấp y tế công cộng quốc tế, cổ phiếu ở nhiều thị trường chính trên thế giới sụt giảm mạnh. Các chỉ số cổ phiếu chính của Mỹ và châu Âu mất từ 1,7-2% trong ngày giao dịch sau đó. Các phiên giao dịch chứng khoán sau Tết Âm lịch ở Việt Nam chứng kiến thị trường cổ phiếu giảm hơn 5%. Trong khi đó, giá vàng quốc tế vọt lên trên 1.580 đô la Mỹ/ounce từ mức chỉ có 1.520 đô la Mỹ/ounce hồi đầu tháng.

Vấn đề quan trọng hơn không nằm ở việc cổ phiếu mất điểm hay giá vàng tăng mà nằm ở nỗi lo sợ đang lan truyền trong cả nền kinh tế chứ không phải chỉ là thị trường tài chính. Tâm điểm bắt đầu từ nền kinh tế Trung Quốc.

Nhiều hãng sản xuất quốc tế từ thiết bị di động như Apple cho đến các nhà sản xuất xe hơi quốc tế như Toyota, General Motors, Ford và Volkswagen đều đã tạm dừng dây chuyền sản xuất ở Trung Quốc. Các nhà sản xuất lớn của Trung Quốc cũng có động thái dừng sản xuất ở nhiều khu vực xảy ra dịch.

Một số nhà cung cấp linh kiện đã đưa ra dự đoán số lượng ô tô sản xuất ở Trung Quốc trong quí 1-2020 sẽ giảm khoảng 15% và đây chỉ là số liệu ước tính được đưa ra khi mà số người nhiễm bệnh chỉ là hơn 9.000 người.

Công ty Coca-Cola cũng đã đóng cửa nhiều nhà máy ở Trung Quốc trong khi Starbucks và McDonald’s đóng cửa rất nhiều cửa hàng. Starbucks đã đưa ra cảnh báo lợi nhuận của mình sẽ sụt giảm đáng kể trong năm 2020 vì dịch cúm ở Trung Quốc, một trong những thị trường trọng điểm của chuỗi cà phê này.

Với tư cách là một mắt xích trọng yếu của chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời là nhà tiêu thụ chính của những mặt hàng xa xỉ như hàng hiệu Louis Vuitton, Gucci, Cartier, dịch cúm ở Trung Quốc không chỉ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh trong nội bộ nước này.

Tờ Wall Street Journal công bố số liệu ước tính cho thấy người Trung Quốc chiếm khoảng 35% doanh thu bán hàng xa xỉ toàn cầu. Việc hạn chế di chuyển của người Trung Quốc ra nước ngoài sẽ tác động xấu đến các ngành kinh doanh hàng xa xỉ trên thế giới, ngay tại các cửa hàng ở Paris, London và Milan chứ không phải chỉ ở Trung Quốc.

Không chỉ bị tác động bởi dịch cúm do virus corona gây, ngày 1-2-2020, Trung Quốc vừa thông báo tình trạng bùng phát chủng cúm gia cầm H5N1 tại một trang trại ở thành phố Thiệu Dương, tỉnh Hồ Nam với gần 18.000 gia cầm bị tiêu hủy. Tuy cúm gia cầm không dễ lây từ gà sang người, nhưng khi lây lan, tỷ lệ tử vong là khá cao.

Theo WHO, H5N1 thường chỉ lây qua người khi tiếp xúc với gia cầm chết nhưng tỷ lệ chết khi bị nhiễm H5N1 ở người là 60%, cao hơn tỷ lệ chết của virus corona 30 lần. Những thông tin ban đầu cho thấy dịch H5N1 ở Trung Quốc lúc này tạm thời không gây lo ngại đến tính mạng con người, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý người dân và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.

Khả năng Trung Quốc thay đổi chính sách kinh tế

Ở thời điểm hiện tại, bất ổn chính trị và khả năng thay đổi chính sách kinh tế ở Trung Quốc tạo thêm nỗi lo cho giới đầu tư quốc tế. Trung Quốc đang đối mặt một đợt vỡ nợ trái phiếu doanh nghiệp với quy mô ngày càng tăng. Năm 2019 được đánh dấu là năm vỡ nợ trái phiếu kỷ lục của nước này, và đặc biệt là các công ty có mối liên hệ với nhà nước cũng vỡ nợ.

Tháng 12-2019, Tewoo Group, một tập đoàn có vốn nhà nước của Trung Quốc hoạt động trong lĩnh vực khai thác mỏ, cơ sở hạ tầng, logistics, đã tuyên bố “tái cấu trúc nợ”, theo đó đa số nhà đầu tư đều chấp nhận lỗ nặng. Đây là vụ vỡ nợ trái phiếu bằng đô la Mỹ lớn nhất của một công ty có vốn đầu tư nhà nước trong vòng hai thập kỷ trở lại đây ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Công ty xếp hạng tín nhiệm Moody’s nhận xét rằng vụ vỡ nợ trái phiếu của Tewoo đã thách thức quan điểm rằng mua trái phiếu của doanh nghiệp có vốn nhà nước tại Trung Quốc là an toàn. Qua vụ việc đó, Chính phủ Trung Quốc đã ngầm thể hiện quan điểm không sẵn sàng cứu trợ doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp lớn và có vốn đầu tư của nhà nước như trước.

Bài học từ Trung Quốc cho thấy che giấu, trì hoãn thông tin giữa dịch bệnh là một hành động tự bắn vào chân mình.

Khi người dân nhận ra họ bị che giấu thông tin, hay nói cách khác là nhận ra họ bị “đánh úp” bởi những tin xấu, bất kỳ cam kết hay biện pháp hành chính nào sau đó cũng sẽ là vô hiệu.

Vụ vỡ nợ của Tewoo đặt một tiền lệ cho thấy Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có vẻ đang ủng hộ quan điểm của phe kỹ trị ở Trung Quốc là cần phải tiếp tục chính sách giảm bớt tỷ lệ nợ vay trong nền kinh tế, chấp nhận những tổn thất và vỡ nợ của các công ty có liên quan đến nhà nước để giảm bớt những “xác chết biết đi” trong nền kinh tế.

Với việc dịch cúm nổ ra, số vụ vỡ nợ doanh nghiệp Trung Quốc có thể còn tăng thêm trong năm nay nếu chính phủ tiếp tục chính sách không can thiệp và hỗ trợ. Nó đặt ra nhiều thử thách cho chính phủ và đặt ra nhiều thế lưỡng nan cho ông Tập Cận Bình.

Liệu ông có thể tiếp tục ủng hộ việc “làm sạch” nền kinh tế và tiếp tục đổ nguồn lực vào tham vọng “vành đai và con đường”? Nhưng trước mắt, giới làm chính sách tài chính và tiền tệ ở Trung Quốc có nhiều điều để lo hơn.

Đầu tiên, vỡ nợ tăng có thể khiến giới đầu tư quốc tế tháo chạy khỏi trái phiếu của Trung Quốc còn nhanh hơn cách mà họ đổ vào. Điều này có thể làm tăng chi phí vay mượn của Trung Quốc bằng đô la Mỹ và đồng thời tạo sức ép giảm giá lên nhân dân tệ. Nhưng nhân dân tệ nếu mất giá mạnh có thể khiến xung đột Mỹ-Trung trở nên căng thẳng trở lại vì Mỹ có thể xem đó là một hành động gây chiến thương mại.

Để xoa dịu các diễn biến nội bộ nền kinh tế, từ khắc phục hậu quả dịch cúm cho đến vỡ nợ doanh nghiệp, Trung Quốc chắc chắn phải làm gì đó để kích thích kinh tế và bơm thanh khoản cho thị trường. Những thứ đó sẽ làm tiêu hao đáng kể nguồn lực kinh tế và khiến Trung Quốc có thể không thực hiện được các cam kết mua hàng từ Mỹ trong thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung, khiến thương chiến tái khởi động.

Những điều này phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc về chính sách lãi suất và tài khóa, mà nhiều khả năng sẽ đi theo hướng bơm tiền và tăng chi tiêu công hỗ trợ nền kinh tế đang bị tấn công bởi dịch bệnh. Lãi suất nhân dân tệ giảm tự nhiên sẽ kéo theo sức ép mất giá của nhân dân tệ.

Thế lưỡng nan của Trung Quốc lúc này là họ muốn hỗ trợ nền kinh tế bằng cách bơm tiền ra bằng nhiều kênh để hỗ trợ thanh khoản cho thị trường tài chính và kích thích kinh tế, mà hệ quả là làm nhân dân tệ chịu sức ép giảm, nhưng bản thân họ cũng không muốn nó mất giá nhanh quá tạo ra rủi ro tháo chạy vốn quốc tế và bị Mỹ xếp vào nước thao túng tiền tệ.

Những kịch bản giảm tăng trưởng

Và cho dù lựa chọn như thế nào, Trung Quốc cũng có thể sẽ phải đối mặt với một đợt suy giảm tăng trưởng kinh tế. Từ mức chỉ 6% trong năm 2019, một số nhà phân tích dự đoán tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm chỉ còn 5% trong quí 1-2020. Tổ chức tư vấn Oxford Economics còn dự đoán tăng trưởng kinh tế Trung Quốc sẽ giảm chỉ còn 4%. Tổ chức này cũng hạ dự đoán tăng trưởng kinh tế toàn cầu từ 2,5% xuống 2,3%, mức thấp nhất kể từ năm 2008.

Mức sụt giảm 0,2% GDP toàn cầu là một mức chấp nhận được và không đáng sợ như một vài kịch bản về suy thoái kinh tế khác. Dù vậy, những mức ước tính này thường là dựa trên hàng chục giả định đơn giản trong các mô hình dự báo. Trong khi thực tế thì phức tạp hơn nhiều.

Các chuyên gia kinh tế đã dự đoán sai rất xa tác động của Brexit và thương chiến Mỹ – Trung gần đây, hay xa hơn là khủng hoảng kinh tế 2008-2009. Vậy thì có lý do gì để tin các dự đoán này? Thực tế thì ngay trong các dự đoán của chuyên gia, có rất nhiều kịch bản (như trường hợp Brexit, có những kịch bản của cùng một tổ chức nhưng chênh lệch nhau đến… 6% GDP).

Đó là chuyện bình thường nếu chúng ta biết một chút về các mô hình dự đoán kinh tế. Vấn đề là truyền thông chỉ chọn đăng tải một vài kịch bản mà thôi.

Căn bệnh khác mang tên “nỗi sợ”

Thông thường, trong bối cảnh hoảng loạn này, những kịch bản u ám sẽ được chú ý. Căn bệnh mang tên “nỗi sợ” đáng sợ hơn nhiều so với căn bệnh do virus gây ra. Đi kèm với nỗi sợ là sự hoảng loạn và những hành vi phi lý trí. Nó không chỉ tác động đến thị trường tài chính mà còn tác động đến nền kinh tế thực, trong hành vi sản xuất, tiêu dùng, mà điển hình là những gì diễn ra với thị trường khẩu trang và nước rửa tay hiện nay ở Việt Nam.

Đi chung với nỗi sợ sẽ là sự lan truyền của tin đồn chưa được kiểm chứng. Làm thế nào để trấn an người dân là một việc khó trong thời điểm hiện tại vì yếu tố bất định của dịch cúm. Không ai biết khi nào dịch cúm kết thúc, còn bao nhiêu người nữa sẽ bị nhiễm bệnh, kinh tế sẽ ra sao, giá cổ phiếu sẽ đi về đâu. Không chuyên gia sáng suốt nào dám đưa ra một dự đoán chắc chắn vào lúc này.

Đối mặt với bất định và nỗi sợ hãi, với tin đồn không căn cứ, cần có sự minh bạch, dám chịu trách nhiệm và quyết đoán của những cơ quan chính phủ, chứ không phải chuyền quả bóng qua lại giữa các bộ, ngành. Người ta đang cần một người và một cơ quan chịu trách nhiệm chính để họ có thể tin vào phát ngôn của người đó, của cơ quan đó, dù là người dân hay là truyền thông.

Đầu mối thông tin đó cần tăng cường thông tin đầy đủ những kiến thức và diễn biến của dịch bệnh để người dân không bị “đánh úp” bất ngờ bởi thông tin về đợt bùng phát ở đâu đó.

Bài học từ Trung Quốc cho thấy che giấu, trì hoãn thông tin giữa dịch bệnh là một hành động tự bắn vào chân mình. Khi người dân nhận ra họ bị che giấu thông tin, hay nói cách khác là nhận ra họ bị “đánh úp” bởi những tin xấu, bất kỳ cam kết hay biện pháp hành chính nào sau đó cũng sẽ là vô hiệu. Chính phủ mất đi tín nhiệm của người dân thì xã hội bất an. 

(*) Giảng viên Đại học Bristol, Anh

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới