Thứ Bảy, 4/12/2021, 12:26
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Điểm nhấn để tăng tốc

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Điểm nhấn để tăng tốc

Quế Sơn

Đến năm 2015, Việt Nam sẽ phát triển được các tập đoàn CNTT có quy mô trong khu vực ASEAN và vươn ra hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế. Ảnh: Lê Toàn.

(TBVTSG) – Đề án “Đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua ngày 22-9, đánh dấu một bước đi mới trong việc phát triển ngành công nghệ thông tin và truyền thông trong giai đoạn tới.

Như tên gọi, đề án có mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT), với mức tăng trưởng hằng năm cao hơn 2-3 lần mức tăng trưởng GDP, đồng thời đóng góp khoảng 10% GDP cả nước. Có bốn trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực, phát triển ngành công nghiệp CNTT, mở rộng hạ tầng viễn thông và đẩy mạnh ứng dụng CNTT.

1 triệu người lao động cho ngành CNTT-TT

Theo mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 1 triệu người phục vụ cho ngành CNTT-TT, khoảng 80% sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành liên quan có khả năng chuyên môn và ngoại ngữ đủ để tham gia thị trường lao động quốc tế. Trước mắt, giai đoạn từ nay đến năm 2015, sẽ có khoảng 30% số sinh viên đạt được khả năng này. Những chính sách đề ra cho biết sẽ ưu tiên nguồn lực để triển khai “Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT” đã được Thủ tướng phê duyệt giữa năm 2009 nhằm thực hiện kế hoạnh này.

Để thực hiện được mục tiêu nói trên, sẽ có các hoạt động hỗ trợ để thông tin dự báo và định hướng phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó là các chính sách ưu tiên về cơ sở vật chất, về quyền tự chủ cho một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu trọng điểm; tăng cường đào tạo kỹ năng sử dụng CNTT trong xã hội để nâng cao dân trí và khuyến khích việc giảng dạy bằng tiếng Anh đối với sinh viên ngành CNTT, đồng thời nâng cao năng lực đào tạo nhân lực bậc cao có kỹ năng sử dụng CNTT trong các ngành công nghiệp.

Doanh nghiệp 15 tỷ đô-la Mỹ

Đây là một trong những tiêu chí quan trọng đặt ra trong quá trình phát triển ngành công nghiệp CNTT-TT Việt Nam. Nhà nước sẽ có những chính sách khuyến khích và hỗ trợ để những doanh nghiệp CNTT-TT lớn mở rộng thị trường đạt tầm khu vực và thế giới. Theo đó, đến năm 2015 sẽ phát triển được các tập đoàn CNTT đạt trình độ và quy mô trong khu vực ASEAN hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, trong đó có những doanh nghiệp đạt doanh thu 10 tỷ đô-la Mỹ. Kế hoạch đến năm 2020 là phát triển những doanh nghiệp hoạt động ở quy mô thế giới và có doanh thu 15 tỷ đô-la Mỹ. Những “con chim đầu đàn” được đề cập trong đề án này là FPT, Viettel, VNPT, VTC và CMC.

Đề án cũng nêu rõ sẽ có cơ chế ưu tiên cho các doanh nghiệp chủ đạo làm tổng thầu các dự án lớn dùng vốn ngân sách nhà nước; khuyến khích các doanh nghiệp viễn thông đầu tư mở rộng vào mảng CNTT… Việc hợp tác quốc tế cũng sẽ được đẩy mạnh nhằm tăng năng lực cho doanh nghiệp Việt Nam, trong đó khuyến khích việc sáp nhập hoặc mua các công ty quốc tế để tạo sự đột phá về thương hiệu.

Trong lĩnh vực gia công phần mềm, Chính phủ đặt mục tiêu đưa Việt Nam nằm trong top 15 quốc gia dẫn đầu thế giới về dịch vụ gia công phần mềm và nội dung số vào năm 2015 và vào top 10 vào năm 2020. Trong khi đó, ở mảng công nghiệp phần cứng sẽ xây dựng một số doanh nghiệp có đủ năng lực thiết kế và sản xuất một số phần cứng và linh kiện thay thế hàng nhập khẩu vào năm 2015 và có một số tổ chức và doanh nghiệp đủ năng lực nghiên cứu ra các sản phẩm công nghệ cao vào năm 2020.

Một lộ trình quan trọng được đặt ra là sẽ dùng chung các công trình công cộng điện lực, cấp thoát nước, giao thông để ngầm hóa các mạng cáp thông tin, truyền hình. Các doanh nghiệp viễn thông sẽ tăng cường hợp tác để sử dụng chung một phần mạng lưới, công trình, thiết bị… để bảo đảm tiết kiệm hữu hiệu trong việc đầu tư thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ.

Ứng dụng CNTT có chiều sâu

Từ nay đến năm 2015, việc ứng dụng CNTT sẽ nhắm đến việc giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội quan trọng, có phạm vi ảnh hưởng rộng như quản lý giao thông đô thị, vệ sinh an toàn thực phẩm, dự báo thời tiết… Các tổ chức sẽ cung cấp hầu hết các dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 2 và 3, khoảng 80% doanh nghiệp và tổ chức xã hội ứng dụng CNTT vào việc điều hành và sản xuất-kinh doanh. Song song đó là việc phổ cập ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục, y tế và đẩy mạnh việc ứng dụng trong quốc phòng và an ninh.

Mục tiêu của Việt Nam vào năm 2020 là được xếp loại khá trên thế giới bằng cách có mặt trong nhóm 1/3 nước dẫn đầu trong bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc về mức độ sẵn sàng của nền chính phủ điện tử. Các dịch vụ công cũng sẽ đạt được ở cấp độ 4, 100% các doanh nghiệp và tổ chức công ứng dụng CNTT cho việc điều hành. Một lộ trình xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia cũng được đặt ra để phục vụ việc phát triển chính phủ điện tử, để việc ứng dụng trong cơ quan nhà nước bảo đảm điều hành thông suốt từ trung ương đến địa phương. Đồng thời có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình phát triển ứng dụng CNTT trong đời sống xã hội trên cơ sở hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà nước.

Đưa băng thông rộng đến tận bản làng

Một trong những động lực quan trọng để phát triển ngành CNTT-TT là Việt Nam sẽ đẩy mạnh hạ tầng viễn thông để có thể lọt vào top 65 quốc gia phát triển về lĩnh vực này theo sự xếp hạng của Liên minh Viễn thông quốc tế vào năm 2015, và đến năm 2020 nằm trong top 55. Theo đó, đến năm 2015 sẽ hoàn thành cơ bản việc kết nối mạng băng thông rộng đến các phường xã trên cả nước, phủ sóng di động băng thông rộng đến 85% dân cư và năm 2020 là hoàn thiện mạng băng thông rộng đến hầu hết thôn bản, phủ sóng di động băng thông rộng đến 95% dân cư.

Để phổ cập thông tin, đến năm 2011, hầu hết các hộ gia đình có máy điện thoại. Tương tự, đến năm 2015, khoảng 20-30% số hộ gia đình có máy tính và truy cập Internet; 90% số hộ gia đình có ti-vi, trong đó khoảng 80% được xem truyền hình số. Đến năm 2020, con số hộ gia đình có máy tính và truy cập Internet sẽ tăng lên 50-60%, trong đó khoảng 30% sử dụng đường truyền cáp quang.

Lộ trình này được thực hiện song song với việc cáp quang hóa và ngầm hóa tuyến cáp; số hóa truyền dẫn và phát sóng truyền hình mặt đất; phổ rộng mạng di động 3G cũng như phóng thêm các vệ tinh Vinasat. Nhà nước sẽ có cơ chế đặc biệt để hỗ trợ các doanh nghiệp về nguồn vốn, chính sách đất đai để thực hiện lộ trình đưa CNTT-TT về vùng sâu vùng xa, biên giới và hải đảo.

Khuyến khích đầu tư cho R&D

Để có thể đạt được những mục tiêu đầy tham vọng nêu trên, nhiều chính sách khuyến khích được đề án đưa ra nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực CNTT-TT, làm chủ và từng bước sáng tạo ra công nghệ cho việc chế tạo sản phẩm mới. Theo đó, sẽ nâng cao năng lực R&D về CNTT tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và trong doanh nghiệp; xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm dùng chung trên cả nước về công nghệ chip, công nghệ cảm biến, phần mềm lõi, nội dung số, an toàn thông tin…

Sẽ có các chính sách khuyến khích đẩy mạnh các công trình nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng phát triển công nghiệp CNTT trong doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp. Nhà nước sẽ ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu sáng tạo, mua hoặc chuyển giao công nghệ mới nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt Nam; có cơ chế hỗ trợ và đầu tư cho các doanh nghiệp lớn tham gia lĩnh vực R&D và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu cùng một lúc với việc tạo ra những sản phẩm thiết bị đầu cuối phù hợp với nhu cầu của thị trường trong nước.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới