Thứ Ba, 29/11/2022, 09:13
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo



Dự thảo mua cổ phần của NĐT nước ngoài có gì mới?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Dự thảo mua cổ phần của NĐT nước ngoài có gì mới?

Các nhà đầu tư Nhật tìm hiểu thông tin ở Sở Giao dịch chứng khoán -Ảnh: LÊ TOÀN

(TBKTSG)- Việc giới hạn tỷ lệ sở hữu, hạn chế quyền mua cổ phần tối đa ở mức 30% đối với nhà đầu tư nước ngoài đã không còn phù hợp. Dự thảo sửa đổi Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam giải quyết yêu cầu này đến đâu?

Vừa qua, dự thảo về Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam do Bộ Tài chính soạn đã được đưa ra lấy ý kiến đóng góp. Dự thảo này sẽ được Chính phủ xem xét và ký quyết định ban hành thay thế cho Quyết định số 36/2003 ngày 11-3-2003 của Thủ tướng Chính phủ cũng về vấn đề này.

Đây thực sự là một tín hiệu mới, là cơ sở để thu hút thêm các nhà đầu tư cho thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời cụ thể hóa các quy định của pháp luật chứng khoán, đầu tư, doanh nghiệp và các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam liên quan đến việc tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu, rộng vào thị trường tài chính trong nước.

Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Chứng khoán 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài được tham gia góp vốn, mua cổ phần với tỷ lệ không hạn chế và thậm chí được tỷ lệ sở hữu ở mức cao nhất (30%, 49%) đối với một số ngành kinh doanh đặc thù. Ngoài ra, theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được phép góp vốn dưới hình thức mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với tổng mức vốn cổ phần do các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trong một doanh nghiệp không quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó trong năm đầu, và mức này sẽ bị xóa bỏ một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngoại trừ việc góp vốn vào các ngân hàng thương mại cổ phần.

Phạm vi, đối tượng điều chỉnh

Dự thảo lần này vẫn xác định phạm vi điều chỉnh là việc góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài quy định tại khoản 1,2,3,6,7 điều 21 Luật Đầu tư 2005, bao gồm: (i) thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài; (ii) góp vốn với nhà đầu tư trong nước để thành lập tổ chức kinh tế liên doanh; (iii) đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO, BT; (iv) đầu tư thực hiện việc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; (v) đầu tư trực tiếp khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo quy chế này.

Dự thảo cũng xác định hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong một số lĩnh vực mà quy định của pháp luật chuyên ngành khác với quy định tại quy chế này thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó, ví như ngân hàng, chứng khoán.

Về đối tượng điều chỉnh, dự thảo mới đã thống nhất đối tượng điều chỉnh là nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm người nước ngoài không thường trú và thường trú ở Việt Nam, với tên gọi là “cá nhân nước ngoài” do Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp không còn có sự phân biệt hai đối tượng này. Dự thảo cũng đã căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005 để xác định doanh nghiệp Việt Nam là các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực, ngành nghề mà pháp luật không cấm đầu tư, bao gồm: doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.

Về mức góp vốn, mua cổ phần

Năm 2006 một dự thảo thay thế Quyết định 36 cũng đã được soạn nhưng chưa được ban hành, vì vậy dự thảo lần này thu hút được sự quan tâm, chú ý của các nhà đầu tư nước ngoài. Dự thảo đã đưa ra nguyên tắc loại trừ khi quy định nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với mức không hạn chế ngoại trừ trường hợp (i) mua cổ phần tại các công ty đại chúng theo tỷ lệ của pháp luật chứng khoán; (ii) góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong những lĩnh vực, ngành nghề thuộc pháp luật chuyên ngành có giới hạn tỷ lệ; (iii) xác định tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần tối đa là 30% vốn điều lệ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa phát hành cổ phiếu lần đầu; (iv) và/hoặc tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Về các hình thức đầu tư

So với dự thảo lần trước (năm 2006), dự thảo lần này vẫn giữ nguyên hai hình thức đầu tư, tuy nhiên, có cụ thể hơn theo những quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cụ thể như nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần phát hành lần đầu của các công ty cổ phần, bao gồm cả doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa, công ty cổ phần được quyền chào bán, phát hành thêm; mua của các cổ đông cả công ty niêm yết và không niêm yết.

Hoặc nhà đầu tư nước ngoài được mua lại phần vốn góp của thành viên công ty TNHH, góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên trở lên để trở thành thành viên mới, hoặc mua lại toàn bộ số vốn điều lệ của chủ sở hữu trong công ty TNHH một thành viên để trở thành chủ sở hữu mới của công ty TNHH một thành viên và được mua lại phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh, hoặc góp vốn vào công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn mới. Nhà đầu tư nước ngoài cũng được mua lại một phần vốn của chủ DNTN, hoặc góp vốn với chủ DNTN để chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH hai thành viên trở lên và trở thành thành viên của công ty TNHH đó.

Bên cạnh những thay đổi  như trên, dự thảo lần này cũng đã xây dựng theo hướng bám sát các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư về phương thức mua cổ phần, cổ phiếu, phương thức góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đầu tư.

BÙI THANH LAM

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới