Thứ Bảy, 22/01/2022, 19:29
30 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Giải quyết ô nhiễm sông Sài Gòn: cần một nhạc trưởng

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Giải quyết ô nhiễm sông Sài Gòn: cần một nhạc trưởng

Phi Tuấn

Sông Sài Gòn ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của TPHCM. Ảnh: Phi Tuấn

TBKTSG Online – Với diện tích lưu vực khoảng 4.500 km2, tổng lưu lượng nước tự nhiên là 1 tỉ mét khối/năm, sông Sài Gòn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu dân sinh của cả một khu vực được đánh giá có tiềm năng rất lớn, nhưng các nghiên cứu cho thấy dòng sông này đang gồng mình gánh chịu căn bệnh ô nhiễm trầm trọng, và các biện pháp bảo vệ nguồn nước vẫn chưa có kết quả vì còn thiếu một nhạc trưởng.

Mối nguy cho nhà máy nước

Theo nghiên cứu của giáo sư tiến sĩ Lâm Minh Triết, Chủ nhiệm Chương trình bảo vệ môi trường và tài nguyên TPHCM, cùng các kết quả quan trắc nguồn nước định kỳ của Chi cục bảo vệ môi trường, chất lượng nước sông Sài Gòn bị ô nhiễm với diễn biến khá phức tạp do chất hữu cơ, vi sinh và kim loại nặng. Chất lượng nguồn nước, đặc biệt là ở trạm bơm Hòa Phú – là trạm bơm nước thô cấp 1 phục vụ cho nhà máy nước Tân Hiệp, đang đe dọa mức độ hoạt động an toàn của nhà máy và việc cấp nước an toàn cho TPHCM, nhất là vào mùa khô khi mức độ ô nhiễm nước sông có xu hướng tăng mạnh.

Để xác định tính chất ô nhiễm, các nhà khoa học đã nghiên cứu các chỉ tiêu ô nhiễm đặc thù như amoniac, độ đục, BOD, Mn, Fe, pH, coliform, mangan… và tất cả đều vượt tiêu chuẩn của nguồn nước loại A – là nguồn nước phục vụ cho mục đích cấp nước.

Kết quả phân tích của giáo sư Triết cho thấy hàm lượng sắt và mangan trong chất lượng nước sông và nước thô đầu vào nhà máy nước Tân Hiệp đều vượt chuẩn từ 1,2 đến 2,5 lần, trong đó, đối với nguồn nước thô, độ đục, độ mangan tăng 4 – 7 lần so với năm 2005, amonia tăng 10 lần, coliform có lúc tăng 50 lần.

Ô nhiễm gây khó khăn rất lớn cho hoạt động của nhà máy nước Tân Hiệp trong việc xử lý nước thô đầu vào. Hệ thống châm hóa chất hoạt động tần suất cao, cường độ lao động tăng, nhất là bộ phận vận hành, giám sát, kiểm nghiệm chất lượng nước, tạo nên sự mệt mỏi, căng thẳng của công nhân vận hành từ 2005 đến nay. Để đảm bảo chất lượng, sản lượng nhà máy có thể giảm sút trong khi yêu cầu luôn phải gia tăng sản lượng và nâng cao chất lượng. Một khi có một chất độc hại khác xuất hiện trên sông thì nhà máy sẽ không có khả năng xử lý triệt để để bảo đảm chất lượng đầu ra.

Những con số

Kết quả phân tích chất lượng nước sông do giáo sư Lâm Minh Triết thực hiện tại trạm quan trắc Phú Cường, Bình Phước và Phú An từ năm 2000 đến nay cho thấy nước sông tại các khu vực này bị ô nhiễm chất hữu cơ, đặc biệt là ô nhiễm dầu mỡ và vi sinh, từ 3 đến 168 lần tiêu chuẩn cho phép và có xu hướng tăng dần từ thượng nguồn (trạm Phú Cường) về phía hạ lưu.

Theo giáo sư Triết, nước thải sản xuất công nghiệp từ các cơ sở sản xuất và nước thải sinh hoạt dân cư sống trên lưu vực là nguyên nhân gây nên sự ô nhiễm của sông Sài Gòn. Rạch Bà Bếp có nồng độ chất ô nhiễm cao cùng với lưu lượng 1.722 mét khối/ngày đổ vào sông Sài Gòn, nên tải lượng ô nhiễm là lớn, tăng từ 4 đến 41 lần. Sông Thị Tính tiếp nhận nước thải sinh hoạt và công nghiệp từ Bến Cát, Bình Dương, và các kết quả quan trắc cho thấy các hợp chất ô nhiễm ở đây rất cao. Rạch Tra là nguồn tiếp nhận nước thải với lưu lượng 2.513,26 mét khối/ngày qua kiểm tra 50% lưu lượng nước thải công nghiệp trước khi thải vào nguồn tiếp nhận đều không đạt. Rạch Bà Hồng tiếp nhận 1.689 mét khối/ngày nước thải đổ vào sông Sài Gòn, báo động với các chỉ tiêu quan trắc môi trường nước cao.

Nghiên cứu của giáo sư Triết dự báo đến năm 2010 tổng tải lượng ô nhiễm trên sông Sài Gòn phát sinh từ các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương và TPHCM là rất lớn, cụ thể là nước thải từ các khu dân cư là 1.067.241 mét khối/ngày, nước thải từ các khu công nghiệp tập trung là 673.600 mét khối/ngày và nước thải từ các cơ sở sản xuất nằm ngoài khu công nghiệp là 1.082.305 mét khối/ngày. Theo một tính toán khác, đến năm 2020, sông rạch trong lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn lưu lượng nước thải sinh hoạt sẽ lên tới hơn 2,2 triệu mét khối ngày, tăng 1,8 lần so với 2007, lưu lượng nước thải công nghiệp sẽ tăng đến 2,8 triệu mét khối/ngày, tăng 8,3 lần so với năm 2007 nếu các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được lấp đầy.

Cũng từ nghiên cứu của giáo sư Triết, môi trường nước mặt trên sông Sài Gòn bị ô nhiễm nặng sẽ tác động trực tiếp đến tình trạng sức khỏe của cộng đồng dân cư, là nguyên nhân gây ra các bệnh tiêu hóa, đường ruột, là căn bệnh gây suy dinh dưỡng, làm thiếu máu, thiếu sắt, kém phát triển, tử vong, nhất là ở trẻ em. 88% trường hợp tiêu chảy là do thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường kém. Mặt khác, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt cấp cho nước sinh hoạt trên sông Sài Gòn sẽ gây ra tình trạng thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng, có ảnh hưởng đến đời sống của hàng chục triệu dân cư trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam.

Một nhóm các nhà khoa học ở phía Nam đã áp dụng nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ số chất lượng nước (WQI – water quality indexes) có tính quốc tế, với các phân loại: loại 5 là ô nhiễm nghiêm trọng, loại 4 là ô nhiễm nặng, loại 3 là ô nhiễm trung bình, loại 2 là ô nhiễm nhẹ và loại 1 là ô nhiễm rất nhẹ sau một thời gian đưa ra kết quả: hiện ở TPHCM không có đoạn sông nào đạt loại 1, chỉ một đoạn ngắn ở sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đạt loại 2,  phần lớn sông Sài Gòn và Đồng Nai, toàn bộ các sông Nhà Bè, Lòng Tàu, Soài Rạp, và các sông ở Cần Giờ đạt loại 3. Phần lớn các sông nhỏ ở Bình Chánh, Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi xếp loại 4, kênh rạch nội thành xếp loại 5.

Như vậy, trong tương lai nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông, kênh rạch ở TPHCM không những không giảm mà còn gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là ô nhiễm do chất thải công nghiệp. Đây là cảnh báo khẩn cấp cho công tác bảo vệ và phục hồi chất lượng nước ở TPHCM phục vụ cấp nước cho sinh hoạt, thủy sản, du lịch và nông nghiệp.

Cần một nhạc trưởng

“Tôi nghĩ TPHCM có làm nhiều cách mấy, nhưng nếu không có sự đồng thuận
giữa các địa phương trên lưu vực sông Sài Gòn, thì sẽ rất khó để cải
thiện chất lượng nước của con sông này.”
Giáo sư tiến sĩ Lâm Minh Triết, Chủ nhiệm Chương trình bảo vệ môi trường và tài nguyên TPHCM

Công tác bảo vệ môi trường sông hiện được quản bởi 6 bộ, như bộ Y tế quản lý các nguồn gây ô nhiễm từ bệnh viện, bộ Xây dựng kiểm soát các chất thải rắn, lỏng tại địa điểm xây dựng, bộ Giao thông Vận tải nạo vét các thủy đạo, bộ Công thương giám sát tình trạng môi trường các khu công nghiệp, cụm công nghiệp… nhưng với mỗi bộ một khung pháp lý khác nhau, mỗi địa phương mỗi trách nhiệm khác nhau, do thiếu một nhạc trưởng, vì thế sông vẫn ô nhiễm theo xu hướng ngày càng nghiêm trọng.

Trao đổi với TBKTSG Online, giáo sư Triết thừa nhận các họat động kinh tế xã hội, cũng như vấn đề nước thải công nghiệp và sinh hoạt trên lưu vực sông Sài Gòn là chưa kiểm soát nổi. Do sông không có biên giới hành chính, chảy từ nơi này sang nơi khác, vì thế ông đề xuất một cơ chế hợp tác để giải quyết ô nhiễm và bảo vệ sông Sài Gòn. “Tôi nghĩ TPHCM có làm nhiều cách mấy, nhưng nếu không có sự đồng thuận giữa các địa phương trên lưu vực sông Sài Gòn, thì sẽ rất khó để cải thiện chất lượng nước của con sông này,” ông nói.

Đối với vấn đề quản lý tài nguyên nước, TPHCM đã thực hiện việc cấp phép xả thải, cấp phép khai thác tài nguyên nước, thu thuế sử dụng và xả thải nước, quy định các tiêu chuẩn xả thải nhưng những hoạt động đó không giải quyết được cốt lỏi vấn đề bảo vệ nguồn nước khỏi các tác nhân gây ô nhiễm. Nhưng một chuyên gia nhận xét trong điều kiện hiện nay việc buộc xử lý triệt để chất thải, nước thải trước khi đổ ra sông là khó thực hiện, hơn nữa việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường cho các chất trước khi xả thải ra môi trường một cách riêng rẽ không mang lại hiệu quả kiểm soát cao, đặc biệt là những nơi tập trung nhiều nguồn thải.

Với khuôn khổ pháp lý và năng lực kỹ thuật phân tán, chưa có một tổng chỉ huy chung, nước sông Sài Gòn chắc hẳn sẽ còn lâu mới trong xanh trở lại. “Vụ án” Vedan ở sông Thị Vải dường như là một thách thức cho các nhà quản lý, mà nếu không xử lý rốt ráo thì có thể sẽ dẫn đến một “vụ án sông Sài Gòn” lớn hơn. Cơ sở pháp lý đã có, chế tài đã có, trách nhiệm cũng đã có, chỉ còn thiếu mỗi hành động, hoặc thiếu hành động kiên quyết. Với cách quản lý phân tán như thế, môi trường sẽ lại vẫn bị ô nhiễm “theo chiều hướng xấu”.

Đấy là chưa nói đến các khía cạnh kinh tế, xã hội, văn hóa, và phát triển bền vững của thành phố.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới