Thứ Sáu, 3/12/2021, 23:33
24 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Giáo dục đại học cần tập trung cho số đông

Nguyễn Đức Hoàng

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG) – Xung quanh những tồn tại của giáo dục đại học Việt Nam, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp cho cả thầy và trò cùng các nhà hoạch định chính sách từ nhiều góc độ, nhưng theo người viết bài này, có lẽ trước hết cần đánh giá từ góc độ hiệu quả giáo dục đào tạo lên số đông sinh viên.

Giáo dục đại học của chúng ta luôn hướng tới những gì cao siêu và đã bỏ quên, hoặc coi thường những khái niệm đơn giản. Trong ảnh: sinh viên chụp hình kỷ yếu ngày tốt nghiệp. Ảnh: N.K

Bước chân vào ngưỡng cửa trường đại học, hẳn không ít bạn trẻ đã kỳ vọng về tương lai và hướng tới nó bằng những nỗ lực học tập. Nhưng có một thực tế về phía các bậc thầy, đó là không ít người muốn tập trung đưa đội ngũ học trò phấn đấu thành những nhà khoa học, hay nghệ sĩ. Việc dạy và học cứ thế xoay vòng nhưng chỉ một tỷ lệ nhỏ, thậm chí rất nhỏ sinh viên có thể trở thành nhà khoa học, hay nghệ sĩ.

“Không hàn lâm không phải là đại học”

Đã có người đặt câu hỏi với các bậc thầy về cái lý tưởng đó: tại sao là như thế? Và một bậc thầy đã trả lời bằng câu hỏi lại: “Thế chẳng lẽ dạy họ đi buôn hay sao?”. Với sự trả lời này, cũng có người đã nghĩ nếu người thầy nào đó biết đi buôn, thậm chí buôn giỏi thì có lẽ họ đã rời bỏ mái trường để ra lập doanh nghiệp của mình.

Thực tế, có không ít doanh nhân tên tuổi có học vị giáo sư, tiến sĩ, từng là giảng viên đại học, và có người trong số họ từng nhận định: nếu môi trường giáo dục vẫn quá tuân theo những “khuôn vàng, thước ngọc” thì sẽ không thích ứng với thực tế xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Bởi những tiêu chuẩn “khuôn vàng, thước ngọc” mà sinh viên luôn phấn đấu học hành theo đó sẽ chỉ giúp họ giỏi trên bảng điểm của nhà trường, chứ cũng chưa chắc có thể trở thành nhà khoa học hay nghệ sĩ.

Ấy vậy nhưng dường như các trường đại học của chúng ta cùng những người thầy vẫn kỳ vọng các thế hệ sinh viên của mình theo đuổi cái lý tưởng giáo dục đào tạo đó. Thậm chí không ít bậc thầy vẫn bảo lưu quan điểm “không hàn lâm không phải là đại học”. Và có lẽ chính vì điều đó mà giáo dục đại học của chúng ta luôn hướng tới những gì cao siêu và đã bỏ quên, hoặc coi thường những khái niệm đơn giản(!).

Khi những điều đơn giản bị coi thường

Khoảng năm 2002, báo chí trong nước từng dấy lên một cơn sốt với những cuộc tranh cãi nảy lửa giữa việc lựa chọn mã dựng sẵn hay mã tổ hợp cho tiếng Việt trên môi trường máy tính và mạng theo chuẩn Unicode. Liệu rằng thực tế đó có tác động gì tới môi trường giáo dục về công nghệ thông tin ở bậc đại học và sinh viên ngành học này thấu hiểu bản chất của những tranh cãi sôi nổi đó đến đâu?

Buồn thay là những cuộc điều tra bỏ túi tại ngay cả những đại học lớn như Đại học Bách khoa Hà Nội hay Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy có đến trên 50% số sinh viên ngành công nghệ thông tin chẳng biết gì về chuyện này. Thậm chí có những sinh viên cho rằng họ chẳng cần thiết phải quan tâm đến tiếng Việt làm gì, vì với mục tiêu làm phần mềm gia công cho nước ngoài thì chỉ cần giỏi ngoại ngữ(!).

Cũng hệt như vậy, có sinh viên tốt nghiệp loại khá ngành điện tử viễn thông đã thành thật nói là “em không biết” trước câu hỏi vì sao đôi lúc màn hình ti vi lại có những vệt xuất hiện khớp với đường tiếng. Hay một sinh viên ngành quốc tế học với luận văn tốt nghiệp về quan hệ Việt – Trung đã không trả lời được những tỉnh nào của Trung Quốc giáp với Việt Nam và nước Trung Quốc được đặt trong mấy múi giờ(!). Thậm chí có cả chuyện chuyên viên Viện Toán học không trả lời được cho đề nghị viết ra phương trình biểu diễn mảng màu chuyển tông từ đậm sang nhạt…

Về thực trạng này, một chuyên viên của Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam cho rằng đây là lỗi của cả một lớp người đi trước, vì dường như trong tiềm thức, họ coi thường những điều tưởng như đơn giản. Tuy nhiên, khi bước ra thực tế thị trường tuyển dụng, các kiến thức khoa học liên ngành là những câu hỏi dễ bị hỏi nhất, và nhiều ứng viên tìm việc làm là sinh viên đã tốt nghiệp ra trường không thể trả lời được, vì không có sự chuẩn bị và cũng không hề được ai bảo trước để mà chuẩn bị.

Cũng theo chuyên gia này, lãnh đạo các ngành khoa học cần phải biết nhìn vào thành tựu của các lĩnh vực khác để chủ động đón bắt và ứng dụng cho lĩnh vực của mình. Thế nhưng có lẽ đó lại là chuyện khó, bởi khoa học liên ngành là vấn đề của nhận thức. Một khi nhận thức chưa thay đổi thì không thể ép được nhau bất cứ việc gì.

Hãy đặt mục tiêu vì số đông

Dẫu vậy, bất luận các bậc thầy làm gì và sẽ đi đâu về đâu thì câu trả lời mà xã hội hằng mong ở họ là phải chỉ ra con đường bước tiếp cho thế hệ trẻ. Một khi đến cả trường chuyên lớp chọn cùng những hệ đào tạo tài năng còn có người giỏi, kẻ không, thì trong môi trường đại học rộng lớn hẳn chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ là thực sự giỏi và có triển vọng trở thành nhà khoa học, hay nghệ sĩ. Câu hỏi đặt ra là số đông sinh viên còn lại, thậm chí chiếm tuyệt đại đa số, sẽ làm gì?

Lãnh đạo ngành giáo dục đã và đang phấn đấu tới mục tiêu xây dựng được những đại học Việt Nam có đẳng cấp quốc tế. Tuy nhiên, không ít cựu giáo chức đã chỉ ra rằng những mục tiêu đó là quá lạc quan, bởi ngay cả những nước có trình độ phát triển hơn Việt Nam cũng không dám đặt ra những mục tiêu như thế.

Ngay các đại học có đẳng cấp quốc tế như Havard (Mỹ), Oxford và Cambridge (Anh) hay Sorbone (Pháp) thì cũng phải nhìn lại về xuất phát điểm của họ. Xuất phát điểm của các trường đại học này cũng chỉ với mục đích đơn giản là đào tạo ra cử nhân, kỹ sư thực hành có thể làm được việc với những công việc mà xã hội đòi hỏi. Rồi lâu dần với bề dày kinh nghiệm và năng lực phát triển, họ trở thành mẫu mực để thế giới học tập và trở thành có đẳng cấp quốc tế.

Trở lại với giáo dục đại học Việt Nam, có một thực tế phải tìm hiểu xem là có bao nhiêu trường đã thực hiện một cách nghiêm túc việc khảo sát về nhu cầu nhân lực của các nhà tuyển dụng để điều chỉnh lại chương trình giáo dục đào tạo của mình cho phù hợp với thực tiễn? Hẳn là số trường làm được việc đó còn rất ít ỏi.

Do vậy, để cải thiện tình hình, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải coi đó là chỉ tiêu quan trọng, thậm chí là quan trọng nhất trong việc đánh giá, xếp hạng các đại học. Làm được việc đó, chúng ta sẽ trả lời được câu hỏi: “Số đông còn lại sẽ làm gì?”.

1 BÌNH LUẬN

  1. Cách đặt vấn đề bị sai. Giáo dục phải là quyền lợi của số đông. Giáo dục + đào tạo phải là quyền lợi của mọi người đến tuổi lao động. Giáo dục đại học là phần thưởng dành cho tầng lớp tinh hoa. Phân tầng như vậy để kiến tạo ra một cơ cấu xã hội vừa công bằng vừa văn minh, đảm bảo cho quốc gia vừa không bị hụt hẫng về nhân lực vừa không bị tụt hậu so với thế giới.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới