Thứ Bảy, 1/10/2022, 16:53
28 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Hiệu quả sử dụng vốn kém đến mức đáng lo

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Hiệu quả sử dụng vốn kém đến mức đáng lo

Bùi Trinh

(TBKTSG) – Trong giai đoạn 2010-2018, GDP của Việt Nam đạt mức tăng trưởng tương đối cao, bình quân giai đoạn này vào khoảng 6%/năm. Tuy nhiên, nhìn vào cấu trúc sở hữu có thể thấy tăng trưởng GDP dường như không thực chất lắm và không mang nhiều ý nghĩa để đánh giá tình trạng sức khỏe của nền kinh tế đất nước.

Lãi suất dưới áp lực tăng trưởng GDP

Một số câu hỏi quanh chuyện GDP tăng thêm hơn 25%

Hiệu quả sử dụng vốn kém đến mức đáng lo
Theo cách tính ở Việt Nam, trong GDP còn bao gồm cả lãi trả tiền vay ngân hàng. Ảnh minh họa Thành Hoa.

Những đóng góp không mang nhiều ý nghĩa

Trong GDP bao gồm mấy trăm ngàn tỉ đồng là nhà ở tự có tự ở, khoản này tuy làm tăng quy mô GDP nhưng thực chất ghi có bên nguồn và ghi nợ ở bên sử dụng, như vậy chẳng ai được hưởng khoản này!

GDP cũng bao gồm các khoản chi ngân sách khiến tăng trưởng của khối ngân sách luôn cao hơn mức tăng trưởng bình quân chung của nền kinh tế trong suốt thời gian dài (7,2% so với 6,1%). Theo cách tính ở Việt Nam, trong GDP còn bao gồm cả lãi trả tiền vay ngân hàng.

Như vậy, có thể thấy tính toán hiệu quả đầu tư từ chỉ tiêu GDP không mang nhiều ý nghĩa. Sẽ là rõ hơn khi nhìn nhận vấn đề này từ khâu sản xuất, đó là khối doanh nghiệp.

Doanh nghiệp Việt Nam hiện là khu vực đóng góp quan trọng nhất vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước. Trong những năm qua, với sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thông qua nhiều chính sách, nghị quyết được ban hành như: Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; các nghị quyết 19/NQ-CP những năm gần đây về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đến năm 2020, doanh nghiệp Việt Nam đã và đang phát triển nhanh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng ổn định và bền vững của nền kinh tế.

Tuy nhiên, khi nhìn vào cấu trúc của doanh nghiệp theo ngành, có thể thấy trong số lượng doanh nghiệp hiện có (tính đến ngày 31-12-2018), số hoạt động trong khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất, và tỷ trọng này ngày càng tăng, từ 63,3% bình quân giai đoạn 2011-2015 tăng lên 66,6% năm 2018, trong đó hơn một nửa thuộc nhóm ngành thương mại (54% năm 2017 và 55% năm 2018).

Điều này phần nào cho thấy, dù sản phẩm được làm tăng giá qua khâu lưu thông (phí thương mại) nhưng không thực sự có nhiều ý nghĩa với nền kinh tế. Tuy nhiên có tín hiệu đáng mừng là số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực “hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ” chiếm tỷ lệ khá cao (11%) trong tổng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, điều này phù hợp với xu hướng của nền kinh tế số hiện nay và tương lai.

Doanh nghiệp nhà nước ngày càng kém hiệu quả

Bảng 1 cho thấy một vấn đề nữa cần đặt ra từ số liệu công bố trong Sách Trắng của Tổng cục Thống kê (TCTK) là tỷ lệ doanh nghiệp có kết quả sản xuất kinh doanh so với số doanh nghiệp đang hoạt động càng có xu hướng nhỏ đi, năm 2018 tỷ lệ này chỉ khoảng 85,6%. Như vậy đặt ra chỉ tiêu 1 triệu doanh nghiệp dường như chưa đủ mà điều quan trọng là các doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất để tạo ra GDP ra sao.

Tính toán từ kết quả điều tra doanh nghiệp hàng năm cho thấy hệ số vốn, sản lượng ngày càng tăng (bảng 2). Năm 2011, bình quân cả nước cần 1,44 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần thì đến năm 2017 phải cần 1,65 đồng vốn mới tạo ra 1 đồng doanh thu thuần, hiệu quả giảm khoảng 13%.

Đặc biệt, khu vực sản xuất trong nước là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước, hiệu quả sử dụng vốn ngày càng sút giảm. Doanh nghiệp nhà nước từ mức 1,8 đồng vốn tạo ra 1 đồng doanh thu thuần năm 2011, đến năm 2017 phải cần tới 3,05 đồng vốn mới tạo được 1 đồng doanh thu thuần.

Trong ba loại hình sở hữu chỉ có doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có hiệu quả sử dụng vốn tăng mạnh. Khu vực này năm 2011 cần 1,17 đồng vốn để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần, đến năm 2017 chỉ với 1,03 đồng vốn đã tạo ra được 1 đồng doanh thu thuần.

Xét giai đoạn 2011-2017, hệ số tăng vốn, doanh thu thuần của doanh nghiệp nhà nước lên tới 12,6, đây là một con số đáng báo động về hiệu quả đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Điều này do thất thoát, lãng phí, đầu tư vào những công trình mà không để làm gì, không làm tăng giá trị tài sản của những chu kỳ sản xuất sau, xây những công trình phúc lợi, công cộng chưa cần thiết như đào đường lấp đường đôi khi cũng làm hiệu quả đồng vốn sụt giảm.

Ngược lại với hệ số vốn, doanh thu thuần là chỉ số quay vòng vốn. Chỉ số này càng thấp thì càng không hiệu quả. Bảng 3 cho thấy doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả nhất và càng ngày càng kém hiệu quả trong sử dụng vốn, trong khi doanh nghiệp FDI sử dụng vốn ngày càng hiệu quả

Các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt doanh nghiệp nhà nước, sử dụng vốn không hiệu quả nhưng nguy hiểm là nguồn vốn cơ bản là vốn vay.

Bảng 4 cho thấy bình quân giai đoạn 2011-2015, trong 100 đồng vốn của doanh nghiệp nhà nước chỉ có 25 đồng là vốn chủ sở hữu, còn 75 đồng là nợ phải trả. Hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu bình quân giai đoạn này là 3,02:1, và đến năm 2017 tăng lên 4,2:1. Nên nhớ rằng năm 2011 tỷ lệ này mới chỉ là 3:1, nó được các chuyên gia báo động về việc nợ nần ở mức không an toàn. Với doanh nghiệp ngoài nhà nước, nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cũng đang có xu hướng tăng lên.

Tình trạng này rất có thể đưa đến tình trạng vỡ nợ nếu không nhanh chóng khắc phục. Đây mới là một trong những vấn đề sống còn chứ không phải việc quy mô GDP là bao nhiêu, tăng trưởng GDP thế nào. Việc đặt ra mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp cần phải đưa thêm các mục tiêu khác như tỷ lệ doanh nghiệp có sản xuất kinh doanh và khống chế việc vay nợ.

Vị trí đặt bình chọn

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới