Chủ Nhật, 14/07/2024
35.6 C
Ho Chi Minh City

Khai thác: cần nhưng phải có chiến lược

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Khai thác: cần nhưng phải có chiến lược

Nguyên Tấn

Hoạt động khai thác khoáng sản thời gian qua đã bộc lộ nhiều bất cập. Trong ảnh là cảnh khai thác than tại tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG) – Tài nguyên khoáng sản được xem như nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Thế nhưng, khai thác ra sao, mức độ bao nhiêu, lúc nào?… Đó là những vấn đề nóng được các chuyên gia đưa ra khi đề cập đến thực trạng khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hiện nay.

>> Thực trạng quản lý khó phát triển?

Giàu hay không giàu?

Theo các chuyên gia, muốn có một chiến lược khai thác, sử dụng hợp lý thì trước hết phải xác định nguồn tài nguyên khoáng sản của nước ta đến đâu, có thực là “rừng vàng, biển bạc” như xưa nay vẫn nói không? Vấn đề tưởng đơn giản nhưng lại gây không ít tranh cãi.

Theo con số của ngành địa chất đưa ra thì từ năm 1955 đến nay, các nhà địa chất Việt Nam đã thăm dò và phát hiện khoảng trên 5.000 điểm mỏ, điểm quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau.

GS.TS. Phạm Duy Hiển, nguyên Phó viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia, khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng tài nguyên khoáng sản Việt Nam không dồi dào như ta tưởng bởi phần lớn chất lượng xấu, trữ lượng nhỏ và khai thác khó. Chưa nói đến rất nhiều các thông số về trữ lượng chỉ là những con số “nằm trên giấy” mà chưa được đánh giá, thăm dò một cách chính xác.

“Tạo hóa đã dày công tạo nên trong quá trình hàng tỉ năm mới có chừng đó và để dành cho nhiều thế hệ, chứ không phải có bao nhiêu ta đào lên bán hết để rồi chẳng còn gì! Ấy mới là đạo lý”

GS.TS. Phạm Duy Hiển

GS.TS. Trần Mạnh Xuân, Đại học Mỏ – Địa chất và TS. Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, cũng đồng ý với ý kiến trên.

Ngược lại, GS. Nguyễn Khắc Vinh, Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam, thì cho rằng: “Nước ta nhỏ nhưng tài nguyên giàu thật”. Giàu vì tài nguyên khoáng sản đa dạng, có mặt ở cả ba loại cơ bản gồm nhóm năng lượng (như dầu khí, than đá, uranium, mangan…), kim loại (sắt, đất hiếm, bauxite, titan…), phi kim loại (cát, đá, các vật liệu xây dựng khác…).

Chẳng những vậy, trữ lượng của một số loại khoáng sản thuộc vào loại khá. “Ví dụ, đất hiếm đứng tốp 10 thế giới hoặc mỏ bauxite ở Tây Nguyên vừa được Mỹ công nhận đứng thứ ba thế giới về trữ lượng. Ngoài ra, ta còn có mỏ titan trữ lượng khoảng 200 triệu tấn…”, GS. Vinh dẫn chứng.

Một cách trung dung hơn, ông Trần Xuân Hà, giảng viên Đại học Mỏ-Địa chất, cho rằng tài nguyên khoáng sản nước ta vừa giàu nếu nói về tính đa dạng nhưng vừa không giàu nếu xét về tốc độ khai thác hiện nay. Ví dụ như về than ta có mỏ than chính ở Quảng Ninh với tổng trữ lượng 10,5 tỉ tấn mà thực chất khai thác được chỉ các vỉa than ở độ sâu dưới 300 mét khoảng 3,5 tỉ tấn. Như vậy, nếu theo quy hoạch nhu cầu than của Chính phủ sau năm 2025 cần 65 triệu tấn/năm và sau 2030 cần 100 triệu tấn thì mỏ than Quảng Ninh cũng chỉ cung cấp đủ trong vài chục năm tới.

Về dầu, cho đến nay các mỏ có khả năng thương mại có trữ lượng vào khoảng 300-400 triệu tấn, nếu với tốc độ khai thác 20-30 triệu tấn/năm như hiện nay thì cũng sẽ cạn kiệt không còn bao lâu nữa. Về sắt, mỏ lớn nhất được xem là ở Thạch Khê, Hà Tĩnh, có trữ lượng trên 554 triệu tấn và nếu theo công suất dự kiến của dự án thuộc Công ty cổ phần Sắt Thạch Khê vừa triển khai mỗi năm khai thác 5-10 triệu thì khoảng 60 năm là hết.

Một số mỏ được xem là lớn như bauxite ở Tây Nguyên, bể than đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), titan ở miền Trung, dầu khí ở ĐBSH và vịnh Bắc bộ… vẫn chưa có gì chắc chắn vì đang trong quá trình thăm dò, thử nghiệm.

Bất cập từ chính sách

Tuy nhiên, dù cách nhìn nhận nào thì các chuyên gia cũng thống nhất quan điểm cho rằng tài nguyên khoáng sản rất cần cho phát triển đất nước nhưng do trữ lượng có hạn, không thể tái tạo nên việc khai thác dứt khoát phải dựa trên nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.

Theo TS. Nguyễn Thành Sơn, tư duy dựa vào khoáng sản để tăng GDP cộng với công nghệ khai thác lạc hậu đã làm cho tài nguyên khoáng sản đứng trước nguy cơ cạn kiệt, lãng phí và môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng. Vì lợi ích cục bộ và chạy theo thành tích, nhiều nơi tìm cách khai thác tận thu nhằm tăng xuất khẩu, dẫn đến hiện tượng “chảy máu tài nguyên”, thậm chí phá vỡ cả quy hoạch đã được duyệt.

“Tạo hóa đã dày công tạo nên trong quá trình hàng tỉ năm mới có chừng đó và để dành cho nhiều thế hệ, chứ không phải có bao nhiêu ta đào lên bán hết để rồi chẳng còn gì! Ấy mới là đạo lý”, GS.TS. Phạm Duy Hiển nói.

Trong khi đó, hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản trong thời gian qua bộc lộ hàng loạt bất cập, nhiều vấn nạn nhức nhối. Theo TS. Nguyễn Thành Sơn, tư duy dựa vào khoáng sản để tăng GDP cộng với công nghệ khai thác lạc hậu đã làm cho tài nguyên khoáng sản đứng trước nguy cơ cạn kiệt, lãng phí và môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng. Vì lợi ích cục bộ và chạy theo thành tích, nhiều nơi tìm cách khai thác tận thu nhằm tăng xuất khẩu, dẫn đến hiện tượng “chảy máu tài nguyên”, thậm chí phá vỡ cả quy hoạch đã được duyệt.

Điển hình là về than đá. Ông Sơn phân tích: nếu theo quy hoạch về than đá đã được Thủ tướng phê duyệt vào năm 2003 thì mức quy hoạch đưa ra khá sát với nhu cầu trong nước, phù hợp với mức tăng trưởng GDP từ 4,8% đến 9,5% (1995-2005). Thế nhưng, sản lượng khai thác than không theo mức đó mà cứ liên tục tăng, thậm chí có năm tăng lên 45,6%. “Phần tăng dôi ra chủ yếu là xuất khẩu sang Trung Quốc”, ông Sơn giải thích.

Hệ quả là quy hoạch phải điều chỉnh lại và nghịch lý hơn trong khi than không ngừng được đẩy mạnh xuất khẩu thì theo dự báo từ năm 2015 Việt Nam phải nhập khẩu than đá với giá đắt hơn 2-3 lần để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện.

Nguồn thu từ bán khoáng sản vẫn là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Theo Bộ Công Thương, chỉ trong tám tháng đầu 2009, nhiên liệu, khoáng sản đạt kim ngạch xuất khẩu 5,57 tỉ đô la, chiếm tỷ trọng gần 15% trong kim ngạch xuất khẩu. Điều đáng nói là hầu hết khoáng sản xuất khẩu đều dưới dạng thô, giá trị gia tăng rất thấp, thậm chí theo TS. Nguyễn Thành Sơn, nếu so với thành phẩm giá trị có khi thấp hơn hàng chục lần. “Điều này tạo nên sự lãng phí cực lớn”, ông nói.

Giảng viên Trần Xuân Hà thì cho rằng nguyên nhân của tình trạng này một phần xuất phát từ việc cấp phép khai thác tràn lan, không đúng đối tượng. Do nhu cầu ngày càng lớn, nên khoáng sản như một thứ của trời cho trở thành nguồn lợi béo bở.

Bên cạnh hiện tượng khai thác trái phép bừa bãi là những cuộc tranh giành quyền khai thác hết sức khốc liệt. Nhiều giấy phép được cấp cho các đối tượng không có năng lực nên họ vừa không đầu tư công nghệ, vừa tìm cách khai thác nhanh để bán thô, dẫn đến lãng phí và đặc biệt là làm hủy hoại môi trường.

Các chuyên gia cho biết tổn thất do công nghệ lạc hậu trong khai thác dầu mỏ ở Việt Nam hiện nay khoảng 40-60%; than lò: 50-60%, chế biến vàng: 60-70%… Ngoài ra, hiện tượng khai báo gian dối về sản lượng khai thác để giảm mức đóng thuế khá phổ biến. “Điều này chủ yếu làm giàu cho các chủ mỏ, các đầu nậu thu mua cũng như các cán bộ thuế tham nhũng. Đây chính là bất công trong phân phối nguồn lợi khoáng sản”, ông Hà phát biểu.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên vẫn là do thiếu một chiến lược thích đáng cho hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản. TS. Lại Hồng Thanh, Trưởng phòng Khoáng sản thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, thừa nhận tuy “tài nguyên khoáng sản là nguồn lực quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhưng “cho đến nay chưa có chiến lược phát triển ngành công nghiệp khai khoáng làm cơ sở cho định hướng xây dựng quy hoạch”.

Trong một thông cáo của mình, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên – Môi trường) than phiền rằng việc tham mưu chiến lược, chính sách rất khó khăn do thiếu dữ liệu. Và cũng vì vậy, theo cơ quan này, các chính sách khi đề ra còn “chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học và thường khó áp dụng, triển khai trên thực tế”.

Các chuyên gia cho rằng, đã đến lúc phải xem lại cách sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản. “Dĩ nhiên, chúng ta vẫn phải khai thác nhưng khai thác như thế nào, mức độ ra sao, để dành bao nhiêu… là những vấn đề cần tính toán để có một chiến lược khai thác tối ưu. Điều quan trọng là không nên bán thô để đổi lấy tiền mà trong đầu rút cuộc không có gì cả”, GS.TS. Phạm Duy Hiển nói.

Đồng quan điểm trên, theo TS. Nguyễn Thanh Sơn, tài nguyên khoáng sản một mặt cần được sử dụng nhằm mục tiêu phát triển một số ngành quan trọng, mặt khác phải đảm bảo yêu cầu giữ gìn lâu dài. “Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị từ năm 1996 cũng đã định hướng như vậy, tiếc là thực tế đã diễn ra khác”. Ông cũng đề nghị rằng con đường phát triển hiệu quả, bền vững hơn cả vẫn là nền kinh tế tri thức chứ không phải dựa vào khai thác tài nguyên khoáng sản.

Ở một góc độ khác, ông Bùi Xuân Bảng, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Mỏ – Luyện kim Thái Nguyên, đặt vấn đề: tại Trung Quốc, doanh nghiệp được hỗ trợ cho vay không lãi để nhập nguyên liệu. Nhờ đó, họ thi nhau mua quặng về chất thành núi để dành khi cần mới sử dụng. Tại sao chúng ta không làm được?

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới