Thứ Hai, 6/12/2021, 10:35
22 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Khi nào “cá mới thoát khỏi thớt”?

Nguyễn An Nam thực hiện

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG) – Năm 2019 có một sự kiện điện ảnh gây chú ý: bộ phim Ròm của đạo diễn Trần Dũng Thanh Huy đoạt giải New Currents – giải cao nhất tại Liên hoan phim quốc tế Busan. Nhưng ngay lập tức, nhà sản xuất HKFilm bị Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch tuýt còi.

Với lỗi “Gửi phim tham dự liên hoan phim quốc tế khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép phổ biến”, căn cứ Luật Điện ảnh sửa đổi năm 2009, HKFilm chịu nộp phạt 40 triệu đồng và “tiêu hủy tang vật” (phiên bản gửi dự thi liên hoan phim Busan).

Sau đó, bộ phim Ròm thông qua nhiều bước kiểm duyệt, cắt bỏ khá nhiều phân cảnh bị cho là phản ánh hiện thực tối tăm, nhưng cuối cùng được cấp phép ra rạp vào tháng 9-2020. Phim đạt doanh thu 15 tỉ đồng sau một ngày rưỡi công chiếu và nhận được nhiều nhận định tốt của khán giả cũng như giới phê bình điện ảnh.

Một bộ phim mà Thanh Huy, một đạo diễn thế hệ sinh vào những năm 1990, đã theo đuổi trong suốt bảy năm, được quốc tế công nhận, nhưng phải trải qua quá nhiều “cung bậc” hành chính nghiệt ngã trước khi đến với khán giả trong nước. Đây có thể xem là một câu chuyện điển hình nhiều trắc trở cho những khát vọng điện ảnh nghiêm túc.

Số phận của một bộ phim trong tình hình cơ chế kiểm duyệt hiện tại được nhiều nhà làm phim ví von bằng hình tượng “cá nằm trên thớt”.

Thật vậy, tiền kiểm phim (hay kiểm duyệt có chứng nhận cấp phép thì bộ phim mới được phát hành) đang gây ra nhiều bất cập, bởi trên thực tế, nhiệm vụ quản lý hành chính với hàng rào những lệnh cấm bảo thủ đã thọc tay quá sâu vào không gian sáng tạo, hạn chế tính thị trường của phim ảnh trong bối cảnh mà điện ảnh cần được tư duy như một ngành công nghiệp văn hóa.

Một tác phẩm mà nhà làm phim thực hiện, sau khi qua cửa kiểm duyệt, có khả năng sẽ bị biến dạng theo tay kéo của các vị ngồi ở phòng kiểm duyệt cấp phép của Cục Điện ảnh. Theo ông Vi Kiến Thành, Cục trưởng Cục Điện ảnh phát biểu trên báo Tuổi Trẻ (ngày 17-9-2021) thì “nếu đủ các thành phần”, hội đồng duyệt phim có thể lên đến 40-50 người.

Ông Thành cũng than phiền rằng hội đồng này “quyền rơm vạ đá”, với hàm ý họ thực hiện chức năng trách nhiệm nghiêm ngặt theo Luật Điện ảnh được giao phó, nhưng lại chịu sự chỉ trích của dư luận và giới làm phim nói riêng, giới kinh doanh sản phẩm văn hóa nói chung.

Khi mà cơ quan chức năng có quyền sinh quyền sát một bộ phim, có toàn quyền đưa những lăng kính chủ quan để buộc chỉnh sửa hay vo tròn một tác phẩm điện ảnh vẫn tự coi mình là nạn nhân, thì cần phải nhìn xa hơn đến nguồn gốc bất cập: Luật Điện ảnh đã quy định thế nào về “quyền năng” và “nhiệm vụ” của ban bệ này trong “công tác kiểm duyệt”?

Hãy thử lướt qua một số điều cấm kỵ được Luật Điện ảnh (Số 15/VBHN-VPQH) quy định đã thường xuyên trở thành lá bùa hộ mệnh cho não trạng bảo thủ và sự diễn giải dễ dãi trong khâu kiểm duyệt phim.

Ví dụ điều 11, khoản 2: “Tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; kích động bạo lực; truyền bá tư tưởng phản động, lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục”. Hay điều 11, khoản 4: “Xuyên tạc sự thật lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, vĩ nhân, anh hùng dân tộc; vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân”.

Các điều này không những không được lược bỏ đi, mà còn “phát triển” thêm, trở thành 12 điều cấm mà bản dự thảo Luật Điện ảnh sửa đổi vừa được đệ trình Quốc hội thông qua, đã gây xôn xao từ giữa tháng 9-2021. Một trong những phát biểu có thể gọi là điển hình của cách diễn giải quy chụp được báo chí phản ánh.

Khi nói về Dự thảo Luật Điện ảnh sửa đổi về nội dung và hành vi nghiêm cấm trong hoạt động điện ảnh, cho rằng: “Hiện một số bộ phim có tình tiết cổ xúy cho hành vi vi phạm pháp luật, ví dụ phạm tội nhưng không bị xử lý, lối sống ích kỷ, một số phim phản ánh quá chân thực, quá chi tiết về sự tự diễn biến, tự chuyển hóa, vô hình trung làm cho người xem nhận thức sai và bắt chước làm theo.

Điển hình mới đây, VTV1 chiếu Người phán xử, sau khi chiếu bộ phim đó thì tình hình các băng ổ nhóm tội phạm xã hội đen xảy ra rất nhiều.

Chúng ta đất nước quản lý xã hội bằng pháp luật, nhưng luật không giải quyết được, mà đưa cho ông trùm làm người phán xử, kể cả phán xử cả lực lượng công an. Phán xử tất cả mà đưa vào đó, chiếu trên giờ vàng thì ai chịu trách nhiệm về vấn đề này?”.

Ngay lập tức, lối tiếp cận điện ảnh theo kiểu “xã hội học thô thiển” (sociologie vulgaire) cũ kỹ này đã gây dư luận bất đồng trong giới làm phim, kinh doanh điện ảnh. Bộ phim được nêu ra làm điển hình được một cơ quan sản xuất đài truyền cấp quốc gia, có quyền tự thẩm định và chịu trách nhiệm công bố như VTV mà vẫn trở thành nạn nhân của sự suy diễn và quy chụp, thì nói gì đến những sản phẩm điện ảnh của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân?

Việc kiểm duyệt điện ảnh có ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa điện ảnh phát triển trên thế giới, như Mỹ, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản… Nhưng quá trình kiểm duyệt điện ảnh phổ biến ở nhiều nước được chi phối bởi hai phân vùng khác nhau: phim chiếu rạp và phim truyền hình.

Với phim truyền hình, đài truyền hình sẽ đưa vào một hệ thống phân loại các chương trình phát sóng. Ở đó, đài truyền hình sẽ tổ chức sắp xếp các kênh, khung giờ phù hợp và truyền thông đầy đủ về chương trình để chuyển tới đối tượng xem phù hợp. Hệ thống phân loại cũng giúp cho cha mẹ biết lựa chọn và khuyến khích con cái đón nhận những chương trình phim phù hợp với lứa tuổi.

Còn với phim chiếu rạp, mỗi quốc gia, khu vực, tùy vào các yếu tố đặc thù văn hóa, tôn giáo, chính trị, sẽ có một phương cách kiểm duyệt riêng. Như tại Mỹ, việc “tiền kiểm” phim chỉ dừng lại ở khâu phân loại để định vị, điều hướng tác phẩm đến với khán giả phù hợp.

Cơ quan MPAA Mỹ đưa ra cụ thể các mức độ, khung nội dung chi tiết (về bạo lực, tình dục, cảnh kinh dị, ngôn ngữ tục tĩu…) để gắn biểu tượng khuyến nghị cho nhóm khán giả tương thích (gồm: G – General Audiences (5+), PG – Parental Guidance Suggested (9+), PG-13 – Parents Strongly Cautioned (13+), R – Restricted (16 years and above) (16+), NC-17 – No Children 17 or Under Admitted (17+), và nếu phim chưa được phân loại thì sẽ xếp vào nhóm NR (Not Rated).

Hay như Hàn Quốc cũng hướng đến một hệ thống phân loại tương tự do KMRB thực hiện. Ở đó, các phim ra rạp được gắn các nhãn: phim phổ biến rộng, phim cho các độ tuổi trên 12, trên 15, thiếu niên có giới hạn và phim hạn chế, phim cấm chiếu.

Cách làm này không cho phép cơ quan chức năng nào độc quyền nắm phần sinh sát đối với tác phẩm, mặt khác, những quy định cụ thể sẽ khuyến cáo người xem và buộc các rạp chiếu có trách nhiệm kiểm soát nhóm khách hàng đến rạp sao cho phù hợp.

Nói chung, các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa – điện ảnh lớn thì việc kiểm duyệt chắc chắn sẽ nới rộng theo hướng hậu kiểm (nhà làm phim tự do công bố tác phẩm theo quy luật thị trường và tuân thủ hệ thống đăng ký nhãn quy định lứa tuổi tiếp nhận, sau đó, nếu bộ phim vi phạm các quy định cụ thể theo pháp luật thì sẽ bị xử lý theo luật định).

Cách điều hành đó cũng cho phép nhà làm phim, kinh doanh điện ảnh có thể tranh luận công khai với cơ quan chức năng để bảo vệ cho tác phẩm của mình trong trường hợp họ thấy bị gán tội oan, gây thiệt hại về uy tín sáng tạo lẫn kinh tế.

Luật điện ảnh chặt chẽ chỉ nên đưa ra các điều khoản cụ thể, sáng rõ, chi tiết để hướng đến một hệ thống phân loại phim phù hợp với điều kiện văn hóa Việt Nam hiện tại, giúp cho sản phẩm điện ảnh được lưu hành đúng phân khúc đối tượng và giám sát quá trình đó thông qua hệ thống phát hành.

Những quy định mơ hồ, chung chung như: “phá hoại thuần phong mỹ tục”, “tuyên truyền lối sống dâm ô, đồi trụy, hành vi tội ác”… cần loại khỏi khung kiểm duyệt vì đây là những cụm từ đem lại biết bao tai bay vạ gió, bất công cho người sáng tạo nghệ thuật, làm biến dạng và suy giảm chất lượng biết bao tác phẩm được đầu tư nghiêm túc và tốn kém, làm điêu đứng biết bao nhà sản xuất, kinh doanh điện ảnh.

Một khi điện ảnh được tư duy như một ngành công nghiệp văn hóa thì nên đặt quá trình sản xuất và công bố sản phẩm vào trong quy luật của thị trường. Ở đó, các nhà làm phim chịu trách nhiệm về chất lượng và giá trị tác phẩm trước những “nhà kiểm duyệt” quan trọng nhất: khán giả. Họ không bị làm khó bởi luật, mà trái lại, sẽ có công cụ luật pháp để bảo vệ cho sự chính đáng của sáng tạo và kinh doanh.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới