Thứ Bảy, 18/09/2021, 14:18
31 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Khó như tuân thủ pháp luật khi giải thể

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Khó như tuân thủ pháp luật khi giải thể

LS. Trương Thị Hiền

(KTSG) – Những ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh càng lúc càng nghiêm trọng, dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể. Một quá trình chuẩn bị thủ tục phức tạp kéo dài cùng sự bất hợp lý của pháp luật khiến việc giải thể trở thành một nỗi ám ảnh với doanh nghiệp.

Khó như tuân thủ pháp luật khi giải thể

Những ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh càng lúc càng nghiêm trọng, dẫn đến việc nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể. Trong khi đó, giải thể doanh nghiệp là cả một quá trình thủ tục dài và phức tạp mà nhiều khi trở thành nỗi ám ảnh của những người có liên quan. Các quy định bất hợp lý của pháp luật cũng góp phần vào nỗi ám ảnh đó.

Trong phạm vi bài viết này, người viết xin tập trung vào những quy định bất hợp lý về các hoạt động bị cấm kể từ khi doanh nghiệp có quyết định giải thể.

Cấm chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực

Điểm e khoản 1 điều 211 của Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN) quy định: kể từ khi có quyết định giải thể, doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp bị nghiêm cấm “chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực”. Quy định này kế thừa nguyên vẹn điều 205 của LDN 2014.

Trước khi phân tích sự bất hợp lý của điều cấm này, xin được tóm tắt trình tự giải thể doanh nghiệp tự nguyện theo LDN như sau:

Bước 1: Doanh nghiệp/chủ doanh nghiệp thông qua quyết định giải thể;

Bước 2: Doanh nghiệp gửi thông báo giải thể cho phòng đăng ký kinh doanh (PĐKKD), cơ quan thuế có thẩm quyền và người lao động của doanh nghiệp;

Bước 3: Doanh nghiệp tổ chức thanh lý tài sản, thu hồi nợ, trả nợ, trả lương/thưởng/trợ cấp cho người lao động, quyết toán thuế… (bao gồm việc ký kết/chấm dứt các hợp đồng cần thiết để thanh lý tài sản, tất toán các nghĩa vụ theo hợp đồng…), chia tài sản còn lại cho chủ doanh nghiệp;

Bước 4: Doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký giải thể cho PĐKKD;

Bước 5: PĐKKD ra thông báo giải thể.

Như vậy, theo điều cấm nêu trên, doanh nghiệp sau khi ban hành quyết định giải thể (tương ứng bước 1) thì không được chấm dứt các hợp đồng đang có hiệu lực, nhưng đó lại là việc cần phải thực hiện để hoàn tất bước 3. Trên thực tế, doanh nghiệp gần như không thể không vi phạm điều cấm này trừ khi họ không có bất kỳ hợp đồng nào đang có hiệu lực vào ngày ra quyết định giải thể. Còn nếu tuân thủ quy định này, các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với đối tác/nhà cung cấp/người lao động theo các hợp đồng đang có hiệu lực sẽ vẫn tiếp tục, và do đó, doanh nghiệp cũng sẽ không thể thực hiện được bước 4 để hoàn tất việc giải thể.

Để tránh vi phạm điều cấm này, có ý kiến cho rằng doanh nghiệp nên cố gắng chấm dứt các hợp đồng đang có hiệu lực trước khi ra quyết định giải thể. Khi ấy, việc gì xảy ra?

Đối với các hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thuê tài sản…, việc chấm dứt hợp đồng hoàn toàn khả thi. Dựa trên các quy định có liên quan của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà không có lý do, doanh nghiệp chỉ có rủi ro tổn thất về tài chính do bị đối tác/nhà cung cấp phạt vi phạm hợp đồng hay bị yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nếu doanh nghiệp có đủ điều kiện và sẵn lòng chi trả, bồi thường thì sẽ không dẫn đến các khả năng tranh chấp, kiện tụng.

Đối với hợp đồng thuê đất/văn phòng làm trụ sở, việc chấm dứt hợp đồng cũng hoàn toàn khả thi theo Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại. Tuy nhiên, xét theo LDN và trên thực tế, việc này không thể thực hiện, vì ở thời điểm này doanh nghiệp vẫn đang hoạt động và không thể đăng ký bỏ địa chỉ trụ sở trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không thể không có nơi cất giữ tài sản, giấy tờ của doanh nghiệp, nơi cho người lao động làm việc…

Đối với hợp đồng lao động (HĐLĐ), việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn hoặc chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn mà không có lý do theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 (BLLĐ) sẽ gây nhiều tổn thất cho doanh nghiệp, chưa kể việc doanh nghiệp không thể chấm dứt HĐLĐ nếu người lao động không đồng ý. Việc chấm dứt HĐLĐ phải tuân theo các trường hợp chấm dứt HĐLĐ hoặc các trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo BLLĐ, nếu không sẽ bị xem là chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật và người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc theo điều 41 BLLĐ.

Quy định riêng về việc chấm dứt HĐLĐ theo BLLĐ

Khoản 7, điều 34 BLLĐ quy định HĐLĐ sẽ chấm dứt trong trường hợp “người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động”. Còn theo điều 45 của bộ luật này, “thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động tính từ thời điểm có thông báo chấm dứt hoạt động”. Đối chiếu với quy định của LDN, người ta không xác định được “thông báo chấm dứt hoạt động” tại điều 45 BLLĐ thuộc văn bản nào theo quy trình giải thể 5 bước.

Giả sử có hướng dẫn “thông báo chấm dứt hoạt động” là quyết định giải thể của doanh nghiệp theo bước 1 thì hướng dẫn này lại mâu thuẫn với điều cấm của LDN được nêu ở trên. Và chắc hẳn không thể có hướng dẫn về “thông báo chấm dứt hoạt động” là thông báo giải thể của PĐKKD theo bước 5, vì điều đó sẽ không có ý nghĩa, bởi doanh nghiệp phải chấm dứt tất cả các HĐLĐ tại bước 3 mới có thể có thông báo giải thể theo bước 5.

Trên thực tế, từng có một doanh nghiệp có vốn nước ngoài bị một số người lao động khởi kiện về việc chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật dù doanh nghiệp đó có ra quyết định giải thể và có thông báo chấm dứt HĐLĐ với người lao động trước thời hạn theo đúng quy định. Tòa án sơ thẩm đã bác đơn khởi kiện của những người lao động vì cho rằng doanh nghiệp đã ra quyết định giải thể thì được quyền chấm dứt HĐLĐ với người lao động để tất toán các nghĩa vụ của doanh nghiệp và giải thể.

Tuy nhiên, khi những người lao động đó kháng cáo, Tòa án phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo và tuyên doanh nghiệp đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật vì đã vi phạm điều 205 LDN 2014 (mặc dù điều 41 BLLĐ 2012 có quy định rõ “đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của bộ luật này”).

Bản án này đã gây xôn xao dư luận. Một số người cho rằng nó được ban hành không đúng theo quy định của pháp luật vì đã không căn cứ vào các quy định của BLLĐ để quyết định về một vấn đề hoàn toàn thuộc phạm vi điều chỉnh của BLLĐ. Một số người khác lại cho rằng thẩm phán có cơ sở pháp lý khi không công nhận một hành vi vi phạm điều cấm của pháp luật, vì doanh nghiệp không chỉ phải tuân thủ pháp luật lao động mà còn phải tuân thủ các pháp luật khác trong đó có LDN.

Các hành vi bị cấm khác

Theo khoản 1 điều 205 LDN 2014, khoản 1 điều 211 LDN 2020, ngoài bị cấm chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực, doanh nghiệp khi giải thể còn bị cấm một số hoạt động khác. Như việc doanh nghiệp bị cấm “từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ”. Đây là điều cấm không hợp lý đối với trường hợp doanh nghiệp đã tất toán hết các nghĩa vụ và đang có một số đối tác còn nợ doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp xóa hoặc giảm nợ để chấm dứt hợp đồng với đối tác nhằm hoàn tất việc giải thể thì sẽ vi phạm pháp luật.

Doanh nghiệp cũng bị cấm “ký kết hợp đồng mới, trừ trường hợp để thực hiện việc giải thể doanh nghiệp”. Điều cấm này cũng không hợp lý đối với trường hợp doanh nghiệp cần chuyển trụ sở, như chuyển đến địa điểm nhỏ hơn để cắt giảm chi phí thuê văn phòng.

Điều cấm khác là cấm “cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản”. Điều này cũng không hợp lý đối với doanh nghiệp cần thực hiện quyền sở hữu tài sản của mình để thu xếp tài chính, hoặc có tài sản cho thuê trong thời gian chờ giải thể, nhất là khi thời gian giải thể có thể sẽ kéo dài vì còn phải thực hiện việc quyết toán thuế với cơ quan thuế địa phương.

Ngoài ra, điều cấm doanh nghiệp “huy động vốn dưới mọi hình thức” cũng không hợp lý đối với những doanh nghiệp cần thu xếp nguồn tiền để thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong thời gian chưa thanh lý được tài sản hay thu hồi được nợ.

Có thể thấy những quy định bất hợp lý này không chỉ gây khó cho doanh nghiệp mà còn ẩn chứa rủi ro bất ổn về mặt xã hội, dẫn đến các tình huống khiếu kiện không cần thiết. Thiết nghĩ chúng cần được xem xét điều chỉnh cho phù hợp hơn để vừa tăng tính khả thi, vừa tạo sự an tâm cho doanh nghiệp một khi họ đã chẳng đặng đừng phải làm các thủ tục đóng cửa doanh nghiệp. 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới