Chủ Nhật, 24/10/2021, 09:52
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Không thừa nhận thực tế

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Không thừa nhận thực tế

Mai Lan

Sinh viên Đại học Hoa Sen trong giờ thực hành trên máy tính. Ảnh: MINH KHUÊ.

(TBKTSG) – Ở nhiều nước trên thế giới, giáo dục đã trở thành một trong những “mặt hàng” xuất khẩu chủ lực. Trong khi đó, Việt Nam vẫn đang loay hoay xác định vị thế của cụm từ “kinh doanh giáo dục”, dù trên thực tế tư nhân đã tham gia đầu tư vào lĩnh vực giáo dục ở khắp các cấp học.

>> Siêu lợi nhuận

>> Khi thị trường không ra thị trường

Theo số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM, trên địa bàn thành phố hiện có 73 trường THPT dân lập, tư thục; 33 trường quốc tế đào tạo từ bậc mẫu giáo đến phổ thông, 27 trường trung cấp tư thục và 544 trung tâm văn hóa ngoài giờ (gồm ngoại ngữ, tin học, bồi dưỡng văn hóa). Tại Hà Nội, số trường phổ thông ngoài công lập hiện chiếm trên 21% tổng số trường, thu hút trên 11% số học sinh.

Ở bậc đại học, cao đẳng, cả nước hiện có 80 trường ngoài công lập, chiếm 15,7% số sinh viên cả nước. Định hướng của Nhà nước là đến năm 2020, khối trường ngoài công lập sẽ chiếm 40% tổng số sinh viên. Chưa kể, ngay trong hệ thống đại học công lập cũng đã hình thành các hệ đào tạo liên kết với các trường trong và ngoài nước, có thu học phí toàn phần. Học phí hiện đang chiếm khoảng 50% ngân sách các trường công lập và gần như 100% đối với các trường tư thục.

Với sự hiện diện của các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, có lẽ khó sử dụng ngôn từ nào khác ngoài cụm từ “kinh doanh giáo dục”. Ngay Quyết định 61 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục” cũng được các trường cho là giống như quy định dành cho các doanh nghiệp.

Tiền càng đổ vào, càng rối…

“Có một cuộc cách mạng đang diễn ra trong giáo dục. Giáo dục đang trở thành một hàng hóa được mua bán trên phạm vi quốc tế. Không còn cái thời giáo dục được xem là kỹ năng, thái độ và giá trị cần phải có đối với tư cách công dân và cần thiết để tham gia có hiệu quả vào xã hội hiện đại – một đóng góp trọng yếu cho lợi ích chung của bất cứ xã hội nào. Thay vào đó, giờ đây giáo dục ngày càng được coi là một thứ hàng hóa được khách hàng trả tiền mua nhằm xây dựng một bộ kỹ năng để dùng trên thị trường, hay một sản phẩm được mua và bán giữa các công ty đa quốc gia với các trường đại học đang tự biến mình thành những doanh nghiệp và các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục”.

GS. Philip G. Altbach, Giám đốc Trung tâm Giáo dục đại học của trường Đại học Boston (Mỹ), phát biểu trong một hội thảo giáo dục tại Việt Nam.

Đầu tư ngày càng nhiều nhưng nhìn chung chất lượng đào tạo của khu vực giáo dục ngoài công lập vẫn còn kém xa khu vực công lập. Tại Hội nghị Giáo dục đại học ngoài công lập năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận định: “Ở khu vực giáo dục đại học ngoài công lập, cơ sở phòng ốc, thiết bị giảng dạy thiếu thốn đang ở mức báo động. Tỷ lệ sinh viên trên thầy giáo lên đến 43/1, nhiều trường mất đoàn kết nghiêm trọng”.

Còn theo báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2010, tình hình vẫn không có dấu hiệu biến chuyển: “Khá nhiều trường đại học ngoài công lập đã phải nằm trong tình trạng quy hoạch treo nhiều năm do thiếu đất, hoặc thiếu khuôn viên phải học nhờ địa điểm; giảng viên cũng thiếu hụt, chất lượng đào tạo mang tính cầm chừng”.

Tại TPHCM, trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng hiện có tới 10 cơ sở nằm khắp các quận, huyện. Trường Đại học Văn Hiến hơn 13 năm thành lập nhưng đến nay vẫn chưa có cơ sở chính thức mà phải đi thuê khắp nơi. Trường Đại học Hùng Vương TPHCM được thành lập vào tháng 5-1995 nhưng tất cả tám cơ sở hiện nay đều phải thuê mướn. Thậm chí, có cơ sở còn nằm trong khuôn viên của một cơ quan khác.

Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng nêu ra những con số đáng báo động: “Tỷ lệ giảng viên thỉnh giảng tại nhiều trường đại học ngoài công lập luôn chiếm đa số, đôi khi còn vượt gấp đôi lượng giảng viên cơ hữu. Do thiếu nhân sự, giảng viên trường ngoài công lập đều bị “ép” giờ giảng gấp đôi, thậm chí gấp ba mức quy định đạt tới 1.000 tiết/năm. Vì thế, thường xuyên xảy ra tình trạng tên tuổi các giáo sư, tiến sĩ uy tín thường trùng vào danh sách giảng viên thuộc trường A, rồi lại thuộc trường B; một giải pháp chắp vá để lấp đi sự thiếu hụt”.

Về quyền sở hữu vốn góp ở khu vực đại học ngoài công lập, Giáo sư Phạm Phụ đã lên tiếng cảnh báo: đã xảy ra tình trạng có trường chia lời tới 25-30% cho các cổ đông, có trường nhà đầu tư “bán tháo” cổ phần, có trường từ đầu không có ai góp vốn thì đương nhiên không chia lãi được nhưng lại có cách “lách” khác là tìm cách thu về một chủ…

Đó là chưa kể tình trạng mất đoàn kết xảy ra tại một số trường ngoài công lập do mâu thuẫn quyền lợi giữa nhà đầu tư và nhà giáo dục.

…Và những “khoảng mờ”

Trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như nhiều trường đại học đều tuyên bố đại học tại Việt Nam đều hoạt động “phi lợi nhuận” – với tuyên bố này, hoạt động tài chính của các trường ngoài công lập được đặt ra ngoài sự kiểm soát của Luật Doanh nghiệp và được hưởng thuế suất ưu đãi – thì Quyết định 61 của Thủ tướng Chính phủ lại thừa nhận quyền sở hữu vốn góp của các cổ đông. Các cổ đông này có quyền chuyển nhượng và rút vốn dựa trên quy định của Luật Doanh nghiệp. Trong trường hợp nhà trường bị giải thể, việc xử lý về tài chính, tài sản được áp dụng theo quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp (điều 31).

Cách đây khoảng sáu năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tuyên bố khởi động soạn quy chế hoạt động của hai loại trường “lợi nhuận” và “phi lợi nhuận”. Song, đến nay quy chế này vẫn chẳng thấy đâu. Chính điều này đã tạo ra “khoảng mờ” trong tài chính của khối trường ngoài công lập, từ đó nảy sinh nhiều rối rắm trong hoạt động của nhà trường và là lực cản lớn đối với sự phát triển của khu vực này.

Trong khi các nước đã xem giáo dục như một ngành kinh tế lớn và có những chính sách bảo hộ cho sinh viên trong nước, thì giáo dục Việt Nam vẫn luẩn quẩn trong “ao nhà”! Phải chăng ngành giáo dục vẫn sợ hai chữ “kinh doanh” nên không dám đưa ra những quyết sách rõ ràng, khoa học?

Thế giới cạnh tranh “xuất khẩu” giáo dục

Theo thống kê của Tổ chức Giáo dục quốc tế Úc năm 2010, trong tổng số 1,1 triệu sinh viên học ở Úc thì có 619.119 sinh viên quốc tế đến từ 190 nước. Số sinh viên quốc tế đã mang lại cho Úc 18,6 tỉ đô la Úc, khoảng 125.000 việc làm đồng thời là nguồn cung cấp lao động tay nghề cao cho nước này. Việt Nam có khoảng 23.000 sinh viên đang theo học tại Úc.

Mỹ là đất nước thu hút nhiều sinh viên quốc tế nhất. Tổ chức Institute of International Education (IIE) ở New York vừa công bố có khoảng 700.000 sinh viên nước ngoài đang học tại Mỹ. Theo thống kê mới nhất (2010) của IIE, Việt Nam xếp thứ 9 trên thế giới về số sinh viên đang theo học đại học ở Mỹ (13.112 sinh viên) và xếp thứ 2 về số sinh viên theo học tại các trường cao đẳng cộng đồng.

Anh cũng thu hút 342.000 sinh viên nước ngoài với tổng số tiền học phí đóng cho các trường lên đến 1,5 tỉ bảng mỗi năm. Một báo cáo được Tổ chức Universities UK – đại diện ban lãnh đạo của trường đại học Anh – vừa công bố cho thấy, việc chi tiêu cho các khoản ngoài học xá (phí sinh hoạt, ăn ở, đi lại…) của sinh viên quốc tế còn đóng góp cho nước Anh thêm 2,4 tỉ bảng mỗi năm.

Ở khu vực châu Á, theo nhận định của báo New York Times, nền giáo dục của Singapore, Malaysia, Hồng Kông đang là lựa chọn mới cho các sinh viên du học với chi phí rẻ, chất lượng tốt. Malaysia muốn đẩy con số lên đến 100.000 sinh viên nước ngoài, Singapore hy vọng sẽ có 150.000 sinh viên nước ngoài trong năm 2015.

Tuy đã đẩy các dịch vụ giáo dục trở thành một ngành kinh doanh mang lại lợi nhuận cho quốc gia, nhưng điểm quan trọng cần chú ý là ở các nước “xuất khẩu” mạnh giáo dục, hầu hết các trường đại học lại hoạt động mang tính phi lợi nhuận đối với sinh viên bản quốc và với nhà đầu tư. Lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh giáo dục được bù đắp trở lại để phát triển nhà trường, chứ không đổ vào túi tiền riêng của nhà đầu tư. Chẳng hạn ở Anh, theo Tổ chức Universities UK, số tiền thu được từ các dịch vụ kinh doanh quốc tế đã góp phần bù đắp chi phí giảng dạy chi cho sinh viên Anh. Tại Malaysia, lợi nhuận thu được từ hoạt động xuất khẩu giáo dục, các trường đều đầu tư lại cho cơ sở vật chất trường lớp và sinh viên Malaysia chính là những người hưởng lợi nhiều nhất.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới