Thứ Tư, 27/10/2021, 22:53
25 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Lãi suất thực bị âm kéo dài

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Lãi suất thực bị âm kéo dài

Lãi suất huy động hiện đã được đưa lên mức trên dưới 15%/năm nhưng lãi suất thực sẽ vẫn âm  – Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG Online) – Tốc độ tăng giá tiêu dùng cả năm 2008 được dự báo tăng từ 22 – 25% và do đó việc duy trì mức lãi suất thực dương trở nên khó thực hiện. Vấn đề là cần tăng lãi suất lên ở mức nào để người gửi tiền bớt thiệt thòi; đồng thời ngân hàng hút được lượng tiền trong lưu thông về. 

Lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ

Thời lạm phát “phi mã”, tốc độ tăng giá tiêu dùng rất cao, lên tới ba chữ số (năm 1986 tăng 774,7%, năm 1987 tăng 223,1%, năm 1988 tăng 349,4%); sau đó tốc độ tăng có giảm đi, nhưng vẫn còn khá cao (năm 1989 tăng 36,0%, năm 1990 tăng 67,1%, năm 1991 tăng 67,5%) cao rất nhiều so với lãi suất gửi tiết kiệm.

Chênh lệch lớn đến mức, nhiều người gửi tiết kiệm đã phải thốt lên: “do không biết đầu tư, quay vòng, đã mang tiền gửi vào ngân hàng, nhờ ngân hàng quay hộ, nhưng lúc gửi vào có giá trị như một con bò, không biết ngân hàng quay vòng thế nào, nhưng khi rút ra giá trị chỉ còn là cái đuôi bò”.

Để chống lạm phát, cùng với các biện pháp tăng sản xuất (nhất là hàng tiêu dùng, đặc biệt là lương thực, thực phẩm), cho phép nhập khẩu tiểu ngạch và người đi nước ngoài được mua hàng về, Nhà nước chủ trương “thu lấy mà chi” (đối với ngân sách), “vay lấy mà cho vay” (đối với ngân hàng) và đặc biệt đã đưa lãi suất lên rất cao tới 13%/tháng. Lạm phát lập tức bị chặn lại, năm 1992 chỉ còn tăng 17,5%. Năm 1993, mặc dù tiến hành cải cách tiền lương, nhưng tốc độ tăng giá tiêu dùng chỉ còn 5,2%. Sản xuất nhập khẩu tiểu ngạch (trong điều kiện nền kinh tế thiếu hụt) là rất quan trọng, nhưng phải đưa tiền ra mới thực hiện được và phải có thời gian. Nhưng chính đưa lãi suất tiết kiệm lên để hút tiền từ lưu thông về đã có hiệu quả tức thời, chặn đứng được lạm phát.

Lạm phát bây giờ có khác với trước kia. Nền kinh tế không còn thiếu hụt lớn, quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng đã được cải thiện quan trọng, thậm chí có những sản phẩm cung đã lớn hơn cầu, đã xuất khẩu với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới. Thế giới sốt giá dầu thì Việt Nam có dầu thô xuất khẩu với kim ngạch lớn (năm 2007 đạt gần 8,5 tỉ đô la Mỹ, 5 tháng 2008 đạt trên 4,5 tỉ đô la Mỹ). Thế giới sốt giá lương thực thì Việt Nam cũng xuất khẩu gạo với khối lượng và kim ngạch lớn (năm 2007 đạt 4,6 triệu tấn với 1,5 tỉ đô la Mỹ, 5 tháng đầu năm 2008 đạt trên 2,1 triệu tấn với gần 1,2 tỉ đô la Mỹ).

Lượng ngoại tệ vào nước ta lớn (Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI – năm 2007 đăng ký 21,3 tỉ đô la Mỹ, thực hiện trên 8 tỉ đô la Mỹ, vốn ODA giải ngân trên 2 tỉ đô la Mỹ, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài – FII – lên đến khoảng 6- 7 tỉ đô la Mỹ, kiều hối gần 6 tỉ đô la Mỹ, chi tiêu của khách quốc tế khoảng 3,5 tỉ đô la Mỹ,…).

Lạm phát cho dù do nhiều nguyên nhân, nhưng lạm phát luôn có nguyên nhân tiền tệ và chính tiền tệ làm cho lạm phát bộc lộ ra. Mức cung tiền ra lưu thông và dư nợ tín dụng tăng liên tục với tốc độ cao từ năm 2004, đặc biệt cao trong năm 2007, tính luỹ kế so với tốc độ tăng GDP lên đến 4,5 lần, cao gấp đôi hệ số của các nước trong khu vực; 5 tháng 2008 tốc độ tăng dư nợ tín dụng lên đến 18%, cao gấp bốn lần tốc độ tăng huy động vốn và bằng 60% hạn mức đề ra cho cả năm.

Lãi suất cơ bản nên ở mức nào?

Vấn đề đặt ra là phải hạn chế tiền từ ngân hàng ra lưu thông và hút tiền từ lưu thông về ngân hàng. Để hút tiền từ lưu thông về, Ngân hàng Nhà nước từ giữa năm 2007 đến nay đã hai lần nâng dự trữ bắt buộc (lần thứ nhất tăng gấp đôi tỷ lệ từ 5% lên 10%, lần thứ hai tăng tiếp từ 10% lên 11% nhưng vẫn còn thấp xa so với tỷ lệ 16% sau 7 lần tăng của Trung Quốc); khống chế tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán không vượt quá 3% dư nợ tín dụng vào giữa năm 2007, đến đầu năm 2008 được thay thế bằng 3% vốn điều lệ theo xu hướng chặt hơn; phát hành trái phiếu ngân hàng bắt buộc,…

Đứng trước tình hình trên, các ngân hàng thương mại đã lao vào cuộc đua tăng lãi suất huy động, với mức cao nhất là 1,16%/tháng. Cuộc đua này gây ra tình trạng rút tiền từ ngân hàng này sang ngân hàng kia, và để ngăn chặn, Ngân hàng Nhà nước đã có công điện quy định trần lãi suất huy động 12%/năm, tức là 1%/tháng; sau đó Hiệp hội Ngân hàng lại đồng thuận hạ tiếp trần lãi suất xuống còn 11%/năm.

Những động thái nói trên tuy có tác động hạn chế cuộc đua nâng lãi suất huy động của các ngân hàng nhưng đã làm cho người gửi tiền bị lãi suất thực âm kéo dài, đi ngược lại với biện pháp kinh điển trong các cuộc chống lạm phát là nâng lãi suất huy động để hút tiền về nhằm mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, đi ngược lại ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng là bỏ trần lãi suất, tiến tới lãi suất thực dương.

Ngày 17-5, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành cơ chế mới về điều hành lãi suất, nâng lãi suất cơ bản từ 8,75% lên 12%. Động thái này đã bỏ trần lãi suất huy động, khống chế lãi suất cho vay không vượt quá 18% (theo quy định của Bộ luật Dân sự là lãi suất không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố).

Sau khi trần lãi suất huy động được dỡ bỏ thì lãi suất huy động đã được tăng mạnh, đưa lên mức 14- 15%/năm, mức cao nhất lên đến 16%/năm. Lãi suất cho vay cũng đã đưa về mức 18%/năm, tuy có cao so với mặt bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp hiện nay, nhưng cũng tạo sức ép đối với người vay tiền trong việc lựa chọn và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Tuy nhiên, tốc độ tăng giá tiêu dùng năm 2007 lên đến 12,63%, cao gần gấp rưỡi lãi suất tiết kiệm. Năm tháng đầu năm 2008, tốc độ tăng giá tiêu dùng đã lên đến 15,96% so với tháng 12-2007, tức là tăng 3%/tháng, trong khi lãi suất tiết kiệm chỉ vào khoảng trên dưới 1,2%/tháng, có nghĩa là tốc độ tăng giá tiêu dùng cao gấp 2,5 lần lãi suất tiết kiệm.

Giả sử lấy theo mức lãi suất huy động trên, có 100 triệu đồng cuối tháng 12-2007 gửi tiết kiệm, đến cuối tháng 5-2008 rút ra được khoảng 106,2 triệu đồng, bao gồm 100 triệu đồng vốn gốc và 6,2 triệu đồng tiền lãi danh nghĩa. Nhưng sức mua thực của 106,2 triệu đồng lúc này (tính theo thời giá tháng 12-2007) chỉ còn khoảng 91,6 triệu đồng (tính bằng cách lấy 106,2 chia cho chỉ số giá 115,96%), không những không có lãi thực mà còn bị lỗ thực tới 8,4 triệu đồng (tính bằng cách lấy 100 triệu đồng trừ đi 91,6 triệu đồng).

Theo dự báo của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tốc độ tăng giá tiêu dùng cả năm 2008 thấp nhất là 22%, với mức lãi suất tính theo năm vào khoảng 15%/năm thì lãi suất tiết kiệm vẫn bị thực âm khoảng 6,1%. Gửi 100 triệu đồng vào tháng 12-2007 đến cuối tháng 12-2008 khi rút ra được 115 triệu đồng, nhưng tính lại theo giá tháng 12-2007 thì sức mua chỉ còn 94,3 triệu đồng, bị lỗ thực 5,7 triệu đồng.

Theo dự báo của các chuyên gia, tốc độ tăng giá tiêu dùng cả năm có thể lên đến 25%, thì mức lỗ thực còn cao hơn, lên đến 8 triệu đồng!

Vấn đề đặt ra là Ngân hàng Nhà nước cần nâng lãi suất cơ bản lên 13%, khi đó lãi suất cho vay có thể lên đến 19,5% (để các ngân hàng thương mại không phải thu thêm phí hiện ở mức 1- 2%), lãi suất huy động có thể sẽ được đưa lên 16% để làm cho người gửi tiền đỡ bị thiệt thòi, sẽ hút bớt tiền trong lưu thông nhằm kiềm chế lạm phát.

PHƯƠNG NAM

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới