Thứ Hai, 6/02/2023, 22:09
29 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo


Liên kết “bốn nhà”: chủ trương đúng vẫn tắc!

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Liên kết “bốn nhà”: chủ trương đúng vẫn tắc!

PGS.TS. Vũ Trọng Khải

Nông dân phải chịu nhiều thua thiệt vì thiếu sự liên kết giữa “bốn nhà”. Ảnh: Lê Toàn

(TBKTSG) – Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích liên kết “bốn nhà” (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước) trong việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng, đến nay đã gần tròn bảy năm. Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng nhưng lại bế tắc trong thực thi. Vì sao?

Hợp đồng không bằng “chợ quê”

Một trong những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường là, đối với một loại nông sản, nhiều nhà sản xuất (nhà nông), có khi lên tới hàng chục ngàn, thường bán sản phẩm của mình cho một nhà doanh nghiệp chế biến, bảo quản, tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước. Còn sản phẩm của doanh nghiệp chế biến thường bán cho rất nhiều tổ chức và cá nhân trên thị trường trong và ngoài nước.

Cả nhà nông và nhà doanh nghiệp rất cần liên kết với nhau một cách bền vững trong việc bán và mua nông sản. Nhà doanh nghiệp cần có “chân hàng” ổn định, nguyên liệu đầu vào đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý với số lượng theo yêu cầu của công nghệ chế biến và thị trường tiêu thụ.

Nhà nông cần phải biết chắc chắn nông phẩm do mình làm ra được tiêu thụ hết với giá cả hợp lý, nếu đã đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Mặt khác, ba vấn đề lớn của kinh tế thị trường mà từng nhà nông không thể giải quyết được là (i), thị trường tiêu thụ và thương hiệu (ii), công nghệ mới (iii), vốn đầu tư.

Chỉ có doanh nghiệp mới có thể giải quyết tốt ba vấn đề này. Giải quyết ba vấn đề này không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nông mà cho cả nhà doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản. Vì thế, mối liên kết này là tất yếu và được thiết lập ở các nước phát triển từ hàng trăm năm nay bằng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện trên cơ sở tự nguyện giữa các bên.

Các doanh nghiệp còn “đặt hàng” với các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết các vấn đề từ công nghệ chế biến, bảo quản nông sản đến sản xuất nông phẩm nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất trong cả chuỗi giá trị từ trang trại đến bàn ăn.

Cụ thể là họ không chỉ đầu tư áp dụng các công nghệ mới nhất do các nhà khoa học tạo ra trong khâu chế biến – bảo quản – tiêu thụ nông sản, mà còn đầu tư giúp nhà nông áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông sản ở mỗi trang trại.

Do vậy, hoạt động khuyến nông vì lợi nhuận do các doanh nghiệp thực hiện ngày càng phát triển, làm cầu nối giữa các nhà khoa học và nhà nông, đóng vai trò quyết định trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và góp phần đưa sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung quy mô lớn.

Chẳng hạn, để nông sản được chấp nhận trên thị trường thế giới, sản xuất nông nghiệp hiện nay không thể không tuân theo quy trình và tiêu chuẩn toàn cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm (“Global GAP”). Nhưng những nhà nông nào “hấp thụ” được sự đầu tư về kỹ thuật, về khuyến nông của doanh nghiệp theo Global GAP? Những nhà nông nào cần sự bảo đảm tiêu thụ sản phẩm do mình làm ra?

Chắc chắn đó không phải là những nhà nông trồng trọt trên 5-7 công đất hay nuôi dăm mười con heo. Với quy mô nhỏ, các nhà nông này có thể dễ dàng tiêu thụ nông sản được sản xuất theo kỹ thuật truyền thống ngay tại chợ quê. Họ không cần liên kết với nhà doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản, cũng không có khả năng và không cần áp dụng Global GAP. Còn doanh nghiệp lại không thể ký hợp dồng tiêu thụ nông sản với hàng ngàn hộ nông dân nhỏ lẻ.

Việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng chỉ có thể thực hiện được với điều kiện nhà nông phải là chủ các trang trại (phổ biến là trang trại gia đình), có quy mô sản xuất nông sản hàng hóa lớn, có khả năng áp dụng Global GAP và nhà doanh nghiệp phải có khả năng chế biến – tiêu thụ nông sản với công nghệ tiên tiến, đạt tiêu chuẩn HACCP (hệ thống kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm).

Điều đó giải thích vì sao Quyết định 80/2002/QĐ-TTg khó đi vào thực tiễn sản xuất trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi gia súc do các nông hộ nhỏ lẻ, manh mún tiến hành.

Bội tín thay vì liên kết

Nhưng đáng nói là ngay cả đối với trường hợp sản xuất tương đối lớn, điển hình như ngành nuôi cá tra, cá ba sa thì việc liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp cũng chẳng mấy suôn sẻ. Các trang trại nuôi cá với quy mô 2-3 héc ta ao, sản lượng 300-500 tấn cá/héc ta/năm hiện nay khá phổ biến, họ rất cần ký kết hợp đồng tiêu thụ trước vụ sản xuất. Còn các doanh nghiệp chế biến cá tra, ba sa cũng rất cần được cung ứng nguyên liệu ổn định về cả chất lượng và số lượng với quy mô lớn để chế biến, xuất khẩu cá tra, cá ba sa trên thị trường quốc tế.

Vậy mà mối nhân duyên cung – cầu này xem ra vẫn cứ trúc tra trúc trắc. Căn nguyên có lẽ nằm ngay trong cơ chế về giá khi thực thi Quyết định 80/2002/QĐ-TTg.Quyết định 80/2002/QĐ-TTg (tại điều 8, điểm 5) quy định giá sàn trong quan hệ mua bán giữa nhà nông và doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa, nhà doanh nghiệp phải mua nông sản của nhà nông theo giá sàn khi giá thị trường xuống thấp hơn “giá sàn”; còn khi giá thị trường tăng cao hơn “giá sàn” thì doanh nghiệp cũng phải mua theo giá thị trường.

Điều gì sẽ xảy ra khi thực hiện cơ chế giá này? Khi giá cả xuống dưới “giá sàn” thì nông dân đương nhiên bán nông sản cho doanh nghiệp nhưng khi giá nông sản tăng cao nông dân vì lợi ích trước mắt lại bán cho bất kì ai theo giá thị trường. Bản thân doanh nghiệp cũng không thể mua theo giá này, hay nói cách khác phải buộc vi phạm cam kết với nông dân, vì các hợp đồng đầu ra của doanh nghiệp đã được ký kết từ trước, nếu tăng giá đầu vào (giá mua nông sản) doanh nghiệp sẽ bị lỗ. Thế là cả hai, nhà nông và nhà doanh nghiệp, đều bội tín.

Để hạn chế hậu quả do rủi ro gây ra cho sản xuất nông nghiệp, một trong những biện pháp được nhiều nước áp dụng là hình thành quỹ bảo hiểm rủi ro. Khi giá cả thị trường quá thấp, làm cho nông dân lỗ vốn, Nhà nước dùng quỹ này thuê một số doanh nghiệp mua nông sản theo giá sàn, bảo đảm lợi ích hợp lý của nông dân. Đến thời điểm thích hợp, cần thiết, Nhà nước quyết định bán ra thị trường số nông sản đã mua của nông dân theo giá sàn.

Nếu có phát sinh lỗ, quỹ bảo hiểm nông nghiệp sẽ thanh toán. Tuy nhiên, ở ta chưa có quỹ bảo hiểm như vậy. Quyết định 80/2002/QĐ-TTg, vì vậy, tuy đúng về chủ trương, nhưng không đúng trong “thiết kế” cơ chế, nên đã không thực hiện được.

Đã đến lúc cần đánh giá lại việc thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg trong thời gian qua và thiết lập khung pháp lý mới cho giao dịch nông sản bằng hình thức sản xuất theo hợp đồng. Đó chính là vai trò của Nhà nước trong mối liên kết “bốn nhà”.

Quyết định 80/2002/QĐ-TTg được Thủ tướng Chính phủ ban hành vào ngày 24-6-2002 với nội dung: khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với người sản xuất (hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân) nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa để phát triển sản xuất ổn định, bền vững.

Theo đó, mục tiêu đặt ra là đến năm 2005 ít nhất 30% và đến năm 2010 có trên 50% sản lượng nông sản hàng hóa của một số ngành sản xuất hàng hóa lớn được tiêu thụ thông qua hợp đồng.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới