Thứ Sáu, 7/10/2022, 01:43
26 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Muốn ứng phó nước biển dâng phải có kịch bản khoa học

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Muốn ứng phó nước biển dâng phải có kịch bản khoa học

Tô Văn Trường

(TBKTSG Online) – Người dân và các nhà khoa học đều thấu hiểu tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lún sụt và hoạt động của các đập thủy điện ở thượng lưu sẽ tác động to lớn đến đồng bằng sông Cửu Long. Muốn ứng phó một cách chủ động và khoa học, hiệu quả phải có các kịch bản dự tính biến đổi khí hậu, đặc biệt là ngập lụt.

TPHCM và đồng bằng sông Cửu Long liệu có bị xoá sổ 30 năm tới?

Trao đổi thêm về bài báo "TPHCM và đồng bằng sông Cửu Long liệu có bị xoá sổ 30 năm tới?"

Mới đây, TBKTSG Online có đăng bài viết :"Trao đổi thêm về bài báo TPHCM và đồng bằng sông Cửu Long liệu có bị xóa sổ 30 năm tới?” của tác giả Nguyễn Đức Hiệp. Kết luận đáng chú ý là công nhận các kịch bản độ dâng mực nước biển (SLR) đăng trên Nature Communications là kết quả khoa học tốt nhất hiện nay, chính xác và khả tín về khoa học cao đã được thông qua quá trình bình duyệt (peer review) kỹ lưỡng.

Báo Người đô thị cũng có bài viết: “Khoa học và chính trị xung quanh thông tin ĐBSCL và TP.HCM sẽ “biến mất” thông tin PGS.TS Lê Anh Tuấn Phó Viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ cho rằng báo cáo của Climate Central đăng trên Nature Communications hoàn toàn đáng tin cậy nhưng không có bất cứ luận cứ khoa học nào để minh chứng.

Theo tôi hiểu một cách khách quan và khoa học, bài báo của Nature Comunications có đóng góp quan trọng là đánh giá được nhược điểm của mô hình số độ cao STRM DEM (số liệu địa hình của NASA –NASA’s Shutter Radar Topography Mission, 2000) vốn có sai số khá lớn khoảng 2,5 – 3,7m tại Úc và Mỹ, đặc biệt tại các khu đô thị hoá cao. Từ đó, đã sử dụng số liệu Lidar (của Mỹ) và mô hình mạng thần kinh nhân tạo (ANN) để hiệu chỉnh số liệu địa hình STRM DEM, và kiểm nghiệm bằng số của Úc.

Tác giả cũng đã nhận định rằng "Mặc dù đã được cải thiện, sai số trong số liệu độ cao vẫn là một hạn chế quan trọng trong nghiên cứu này". Nếu chỉ dừng ở bước này, thì đây là một đóng góp mới, đáng ghi nhận của tác giả.

Để có cái nhìn tổng thể và phân tích sâu hơn, chúng ta có thể tham khảo các bước hình thành kịch bản biến đổi khí hậu được tóm tắt trong sơ đồ như sau:

Trong bài báo của Nature Communications có vấn đề là sử dụng phương pháp hiệu chỉnh số liệu địa hình STRM DEM để áp dụng cho các khu vực khác không có số liệu Liadar mà không có kiểm định. Hơn nữa, bài báo có một số điểm chưa phù hợp là đã “chồng chập” nước biển dâng do biến đổi khí hậu theo kịch bản cực đoan với mực nước triều cực đoan để tính ngập.

Về nước biển dâng, ngoài kịch bản K14 (là tương đồng với kịch bản của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu), tác giả đã dùng kịch bản cực đoan (K17) là mực nước biển dâng nhanh do động lực băng tan, cao nhất có thể đến 2m.

Về mực nước triều đã dùng mực nước triều cao nhất trung bình (mean higher-high water, MHHW) với khoảng dao động từ 0,2 đến 2,8 m (tác giả có đề cập là giá trị bình quân là 0,7m). Như vậy đã chồng chập cả 3 giả định cực đoan để tính ngập cho các khu vực ven biển:
– Cực đoan nước biển dâng do biến đổi khí hậu (K17): gây ngập vĩnh viễn.
– Mực nước triều cao nhất trung bình: chỉ gây ngập lụt trong thời đoạn ngắn.
– Không xét đến các công trình ngăn triều.

Người đọc nhận thấy tác giả Nguyễn Đức Hiệp tin tưởng  vào những bài viết được "peer reviewed" đăng trên tạp chí của giới "hàn lâm" là điều bình thường vì tùy theo góc nhìn, nhận thức của mỗi người.

Theo tôi hiểu, nghiên cứu này dù được Nature Communications đăng sau khi được peer review kỹ, có tác dụng là lời cảnh báo để nghiên cứu sâu hơn và có định hướng thích ứng, phát triển. Tuy nhiên, cũng không thể nói đã  được “peer review” rồi là chính xác, không có quyền hoài nghi.

Trên thế giới, không thiếu gì các ví dụ về nhiều bài báo đã đăng trên các tạp chí khoa học có uy tín, khi bị công luận phát hiện ra khiếm khuyết phải rút xuống. Không phải nghiên cứu nào công bố lên journal hay report là cũng hoàn hảo hết, nhưng cần phải lưu ý rõ họ nói theo giả thiết nào và mục đích gì. Có nhiều khi con số kết quả đưa ra chỉ đề minh hoạ phương pháp chứ không phải để cứ thế đem áp dụng vào thực tế.

Cũng chính nhờ sự phản biện và hoài nghi của một số nhà khoa học Việt Nam nên ngày 4/11, giám đốc điều hành Climate Central, tiến sĩ Benjamin Strauss mới đính chính, nói lại cho rõ hơn trên báo Vnexprees: “báo cáo mới về tác động của mức biển dâng với TPHCM, chúng tôi không nói phần lớn TPHCM biến mất vào 2050. Chúng tôi không đưa ra nhận định nào về "sự biến mất" của bất cứ nơi nào, trong đó có Việt Nam. Đây là cụm từ theo sự diễn giải của New York Times về nghiên cứu của Climate Central. Chúng tôi coi nghiên cứu này là bước cải thiện lớn trong hiểu biết của mình về mối đe doạ trên toàn cầu do mực nước biển dâng. Tuy nhiên, chúng tôi không coi nó là kết luận cuối cùng”.

Nếu đọc kỹ bài báo của Nature Communications thấy rõ sự khác biệt ở đây là việc sử dụng các bộ số liệu bản đồ độ cao khác nhau sẽ cho các kết quả tính diện tích bị ngập khác nhau. Và cách họ đưa ra vấn đề “rào trước” như: Mặc dù đã được cải thiện, sai số về số liệu độ cao vẫn là một hạn chế quan trọng trong nghiên cứu này. Lời khuyên của họ về sử dụng Lindar, theo tôi biết Việt Nam đã mua máy Lindar và tự đo từ năm 2016 nhưng kỹ thuật đo địa hình bằng ảnh vệ tinh hay ảnh hàng không vẫn chủ yếu phải sử dụng kết hợp với phương pháp máy đo toàn đạc dưới mặt đất để đối chứng, có bức tranh tổng thể về địa hình tin cậy hơn.

Rõ ràng ở đây câu hỏi đặt ra sẽ là:

1) Bộ số liệu độ cao được tác giả sử dụng đã đủ độ chính xác cần thiết để áp dụng cho khu vực ĐBSCL hay chưa?

2) Nếu tính đến cả yếu tố con người hiện tại, tức là hệ thống đê bao bờ biển, bờ sông (chứ chưa nói là sau này có thể có thêm các công trình mới), thì kết quả tính diện tích ngập lụt và sau đó là số người trong khu vực ngập lụt chênh lệch so với kết quả của tác giả là bao nhiêu?

Khi tính ngập lụt cho TPHCM hay đồng bằng sông Cửu Long chỉ có mô hình thủy văn, thủy lực là chính xác và hữu hiệu nhất. Ngay từ thập niên 80-90, cho đến hiện nay khi tôi tham gia cùng các chuyên gia thủy lực Việt Nam và quốc tế mô phỏng cho bài toán ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long đều dựa trên 5 bước như sau:

Bước 1: Lựa chọn hệ phương trình cơ bản (governing equation): Các bài toán dòng chảy 1-2 chiều đều sử dụng hệ phương trình Saint-Venant, riêng dòng chảy qua công trình như cống đập thì dùng phương trình Bernoulli. Nói chung để thiết lập các hệ phương trình cơ bản thường dùng nguyên lý bảo toàn (khối lượng, động lượng).

Bước 2: Xác định các tham số, điều kiện biên, điều kiện đầu: Trong các phương trình thường có mặt các tham số, chẳng hạn hệ số nhám Manning trong phương trình Saint-Venant. Các phương trình cơ bản (Governing) đề là các phương trình đạo hàm riêng nên để giải nó cần có điều kiện biên và điều kiện ban đầu.

Bước 3: Xây dựng thuật toán số: Vì là các phương trình đạo hàm riêng không thể có lời giải giải tích chính xác nên phải sử dụng phương pháp số để giải gần đúng.

Bước 4: Lập trình (programming): Vì cách giải (thuật toán: algorithm) rất phức tạp nên phải lập trình cho máy tính giải.

Bước 5: Thử tính đúng đắn: Gồm 2 bước:

– Hiệu chỉnh mô hình (calibration): Trong mỗi mô hình đều chứa các tham số (Chẳng hạn hệ số nhám Manning trong mô hình thủy lực), và cách sơ đồ hóa điều kiện thực như lấy các mặt cắt đặc trưng cho từng đoạn sông trong mô phỏng vì thế cần so sánh kết quả tính toán với các kết quả đo đạc thực tế. Trong quá trình này phải hiệu chỉnh (modify) các tham số sao cho kết quả tính toán và đo đạc xấp xỉ nhau với độ sai khác có thể chấp nhận được. Mặt khác vì là phương pháp số tính gần đúng cho nên qua hiệu chỉnh sẽ biết được thuật toán (algorithm) được sử dụng đã tốt chưa, nếu sai khác nhiều thì cần xem lại thuật toán (hay cách giải).

– Kiểm định mô hình (Verification): Sau khi chấp nhận kết quả hiệu chỉnh (calibration) cần giữ nguyên bộ tham số và số liệu đã hiệu chỉnh và chạy mô phỏng (simulation) với một điều kiện biên thực tế khác. Nếu kết quả mô phỏng chấp nhận được thì ta chấp nhận mô hình để dùng cho thực tế.

Một mô hình đã trải qua 5 bước này được gọi là mô hình làm việc (operational model), lúc đó yên tâm sử dụng.

Xin lưu ý: Tác giả của bài báo trên Nature Communications đã rất thận trọng “rào trước, đón sau” khi nói rõ về các hạn chế trong nghiên cứu, nên cũng đã đính chính chưa bao giờ nói vùng ĐBSCL bị xóa sổ như giới truyền thông loan tin.

Mặc dù giám đốc điều hành Climate Central là Tiến sĩ Benjamin Strauss đã đính chính trên báo VNexpress nhưng trên góc độ học thuật, Viện Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu-Bộ Tài nguyên và Môi trường nên có bài báo khoa học phản biện chính thức với tạp chí Nature Communications, “nói có sách mách có chứng” để rộng đường công luận.

Có ý kiến của bạn đọc bình luận rất xác đáng : “Cuối cùng, điều người dân chờ đợi hơn từ các cấp có thẩm quyền thực chất lại không phải là cảnh báo những gì sẽ xảy ra, mà quan trọng hơn là nếu mỗi kịch bản xảy ra thì các tác động cũng như giải pháp và kế hoạch ứng phó như thế nào?”.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới