Thứ Năm, 8/12/2022, 17:35
32 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo



Người nghèo vẫn đứng bên lề nguồn vốn

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Người nghèo vẫn đứng bên lề nguồn vốn

Những người sản xuất nông nghiệp nhỏ được xem là đối tượng rủi ro cao và khó tiếp cận vốn vay của các ngân hàng -Ảnh: LÊ TOÀN

(TBKTSG Online) – Một nghiên cứu của Action Aid Việt Nam (AAV), tổ chức phi chính phủ về xóa đói giảm nghèo có trụ sở tại Anh, đã cho thấy các cải cách tài chính trong những năm gần đây tại nước ta chưa thật sự phát huy hiệu quả giảm nghèo.

Người nghèo ngày càng ít cơ hội tiếp xúc với nguồn vốn vẫn được gọi là tài chính vi mô.

Lợi nhuận và mục tiêu giảm nghèo

Theo kết quả nghiên cứu kéo dài gần 1 năm của AAV Việt Nam do ông Nguyễn Tất Quân, Giám đốc chương trình, công bố ngày 22-7 tại Hà Nội, WTO chưa mang lại những tác động khả quan cho việc tiếp cận dịch vụ tài chính tín dụng của người nghèo ở nông thôn (gọi tắt là tài chính vi mô). Về lý thuyết, nhóm nghiên cứu này cho rằng cải cách tài chính trong nước có thể đóng vai trò lớn trong công cuộc giảm nghèo, ví dụ như việc cho ra đời Ngân hàng chính sách xã hội 5 năm trước.

Tuy nhiên, ở phân khúc thị trường rất rộng lớn còn lại, các ngân hàng thương mại và ngân hàng nước ngoài đều không muốn tham gia vào nhóm cho vay không chính thức, bởi tiểu thương nông thôn và những người sản xuất nông nghiệp nhỏ, đặc biệt là người nghèo, được xem là những đối tượng rủi ro cao. Hơn nữa, việc cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh và ngân hàng thương mại quốc doanh có thể ảnh hưởng đến mục tiêu xã hội của các ngân hàng này và gạt bỏ những khách hàng không sinh lợi như người nghèo. Bởi vậy, người nghèo vẫn phải tìm cách tiếp cận nguồn vốn ở khu vực phi chính thức, quy mô nhỏ và được xem như những “kênh” vốn giúp giảm nghèo.

Những cam kết WTO, tiến dần đến tự do hóa tài chính trong nước, xóa bỏ kiểm soát lãi suất và xóa bỏ hỗ trợ tín dụng đã và đang có những ảnh hưởng bất lợi đến việc tiếp cận các dịch vụ tài chính và tín dụng ở nông thôn. Vì thế, nếu không cân nhắc thấu đáo, người nghèo và yếu thế ở Việt Nam không những không đuợc hưởng lợi mà còn phải chịu thêm nhiều tác động tiêu cực khác.

Ông Phan Cử Nhân, Trưởng ban hợp tác quốc tế của Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), có mặt tại buổi công bố những kết quả nghiên cứu của AAV, đề cập đến những lúng túng giữa cách giải quyết các mục tiêu về lợi nhuận của ngân hàng (dù là NHCSXH) với giải quyết mục tiêu giúp giảm nghèo. Ông Nhân dẫn một ví dụ người nghèo muốn vay với lãi suất thấp nhưng thực tế cho vay lại cao và ngân hàng đang hướng tới việc tìm ra một biện pháp dung hòa những mục tiêu này.

Ông nói rằng sau 5 năm hoạt động, đã có 100% xã trên toàn quốc dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ của NHCSXH. Tuy nhiên, tiện ích này không đồng nghĩa với việc dễ cầm được nguồn vốn vay. Các nhóm khách hàng của NHCSXH dù là hộ nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn hay những người đi xuất khẩu lao động và một vài đối tượng khác muốn tiếp cận nguồn vốn phải qua các tổ tiết kiệm vay vốn bình xét các tiêu chí:  “Năng lực lao động, sức khỏe và tinh thần sản xuất kinh doanh”, rồi được UBND các xã xác nhận là hộ nghèo trước khi tới được ngân hàng.

Từ năm 1993, AAV đã phát triển và hỗ trợ các chương trình tiết kiệm tín dụng ở các vùng nông thôn và miền núi nước ta. Ước tính có khoảng 30.000 hộ gia đình hưởng lợi từ chương trình. Bảy chương trình tín dụng đã thành lập mạng lưới tài chính vi mô lấy tên M7 để thúc đẩy phát triển mạng lưới tài chính vi mô cho 7 vùng: Mai Sơn, Điện Biên, Điện Biên Phủ, Uông Bí, Đông Triều, Hà Tĩnh và Ninh Phước.

Hiện có 197.507 tổ tiết kiệm của ngân hàng này tại các địa phương. Hơn 5,7 triệu người nghèo đã được ngân hàng cho vay vốn trong 5 năm qua với 43.940 tỉ đồng tổng dư nợ (tính đến 31-12-2007). Tác động của nó là giảm tỷ lệ đói nghèo từ 20% (năm 2004) xuống 14,7% (năm 2007). Có 1,4 triệu việc làm mới đến từ các nguồn vốn vay thoát nghèo và hơn 630.000 học sinh, sinh viên có điều kiện theo học nhờ vay vốn từ ngân hàng chính sách.

Tuy nhiên, ông Nhân lưu ý rằng ngoài 5,7 triệu người nghèo (theo chuẩn quy định) đã tiếp cận được nguồn vốn vay vi mô thì còn khoảng 5 triệu hộ cận nghèo chưa có ngân hàng phục vụ và việc tiếp cận được nguồn vốn của các ngân hàng quốc doanh và ngân hàng thương mại đều xa vời. Đây là đối tượng mà NHCSXH cũng như các tổ chức tài chính vi mô đang tìm hướng giải quyết, dù rất khó khăn.

Ông lấy ví dụ NHCSXH hiện đang phải bỏ trống dịch vụ chuyển tiền ở nông thôn nhưng sẽ phải có những cải tiến về công nghệ để dịch vụ này trở lại với người nghèo trong  hình thức tiếp cận nguồn vốn. Ở nước ta hiện nay, phí chuyển một món tiền nhỏ nhất, có cự ly gần nhất cũng thu đến 2.000 đồng, khoảng cách xa thì thu 20.000 đồng trở lên. Trong khi mức phí thấp nhất ở Philippines chỉ tương đương với 300 đồng qua điện thoại di động. Nhưng công nghệ của hệ thống trong NHCSXH ở Việt Nam hiện không đáp ứng được và người nghèo, người cận nghèo vẫn phải trông chờ vào các hình thức vay vốn qua các tổ chức bán chính thức và phi chính thức.

Ngân hàng nào cho người nghèo?

Ông Bùi Đức Thọ, Phó trưởng ban giám sát Tập đoàn tài chính (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) cũng chia sẻ những băn khoăn với AAV và NHCSXH về việc người nghèo đang bị đứng bên lề các cải cách tài chính và khó tiếp cận nguồn vốn.

Ông cho rằng biểu hiện cụ thể nhất là việc các ngân hàng nhỏ, ngân hàng nông thôn “đòi” lên đô thị và khi lên đô thị thì bỏ qua kinh tế vi mô.

Lên đô thị, xa nông dân là xu hướng của rất nhiều ngân hàng nông thôn ở Việt Nam và vì vậy tình trạng cố sức của họ đã dẫn đến việc thiếu thanh khoản, cạnh tranh lãi suất, đẩy lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng, ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường ngân hàng trong thời gian qua”, ông Thọ nói.

Ông cũng bổ sung rằng các ngân hàng mới được thành lập thì càng xa khả năng tiếp cận của người nghèo, cùng với các ngân hàng đã “rời bỏ” người nghèo trước đó, để lại lỗ hổng rất lớn trong hoạt động tài chính vi mô. Nếu muốn tìm cách giúp người nghèo, phải nghiên cứu các mô hình như mô hình ngân hàng hợp tác ở Thái Lan (liên minh với các hợp tác xã), mô hình Rabo Bank (Hàn Quốc), Credit Agricool (Pháp).

Theo ông Thọ, việc đô thị hóa các ngân hàng nông thôn đang mang lại những tác động bất lợi cho tài chính nông thôn nên cần có những sửa đổi trong hệ thống ngân hàng để phần nào tạo cơ hội cho người nghèo. Ví dụ như việc đồng bộ hóa các quy định về vốn điều lệ của tất cả các ngân hàng (1000 tỉ) nên được xem xét bằng cách có những quy định cao, thấp khác nhau về mức độ nguồn vốn cho các loại hình ngân hàng, có ngân hàng vùng, ngân hàng khu vực hoặc ngân hàng toàn quốc, tránh cho các ngân hàng nhìn mức vốn điều lệ đổ xô về các trung tâm kinh tế, thành phố lớn nhằm thu hút lợi nhuận và bỏ lại đối tượng nông dân phía sau.

Hơn thế nữa, các quy định về tài chính vi mô trong khuôn khổ pháp lý hình thành gần đây mới ở tầm Nghị định của Chính phủ. Vì chưa có những quy định pháp lý rõ ràng hơn, xu hướng rời bỏ nông thôn của các ngân hàng nông thôn càng lớn.

Trong việc sửa đổi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng dự kiến thông qua ở kỳ họp Quốc hội hồi tháng 5 đã được hoãn đến năm 2010, cũng có một chương quy định về tài chính vi mô, dù không cụ thể như cấp độ quy định của ngân hàng thương mại hay công ty tài chính. Như vậy, phải đợi thêm 2 năm nữa, các quy định cụ thể về điều chỉnh an toàn trong hệ thống phi ngân hàng, tài chính vi mô, tỷ lệ vốn cho vay, đối tượng cho vay tín dụng hay các quy định về nới lỏng tài chính vi mô mới trở thành hiện thực, để người nghèo có cơ hội tiếp cận được nguồn vốn nhiều hơn.

NGỌC LAN

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới