Thứ Bảy, 23/10/2021, 12:43
31 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Người trẻ và sức đề kháng với truyền thông

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Người trẻ và sức đề kháng với truyền thông

Thanh Hương

Internet, game online, phim ảnh… có thể gây tác hại đến sức khỏe, thể chất và tinh thần của trẻ. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) – Bạn có biết phim có nhãn “PG-13” nghĩa là gì không? Con bạn dành bao nhiêu giờ trò chuyện với cha mẹ, và bao nhiêu giờ trước màn hình ti vi hay máy tính mỗi ngày? Bạn đã có những phương cách gì tạo sức đề kháng cho con mình với truyền thông?

Sức mạnh của truyền thông

Ba em học sinh cấp II ở Nghệ An bị bắt quả tang phá máy ATM để trộm tiền, vì đọc trên báo thông tin về những vụ trộm ATM trước đó bằng những dụng cụ đơn giản. Chuyện hiệu ứng ngược từ phim ảnh, báo chí không còn lạ. Những clip bạo lực học đường vừa đưa lên mạng, ngay sau đó là hàng loạt clip khác tương tự, mức độ còn tàn nhẫn hơn tiếp tục được tung lên.

Những nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về tác hại của truyền thông đến giới trẻ đã được thực hiện từ những năm 1950 với câu trả lời là có. Ngày nay có hàng ngàn nghiên cứu như vậy, và đã khẳng định tác hại lớn của truyền thông (cách gọi tắt cho các phương tiện truyền thông đại chúng, gồm tivi, phim ảnh, game, Internet, báo, tạp chí, âm nhạc lời và hình ảnh, quảng cáo, sách truyện…) đối với sức khỏe thể chất và nhân cách của trẻ.

Những tác hại nhiều nhất có thể kể đến là bạo lực và hành vi hung hăng; hành vi tình dục sớm và thiếu kiểm soát gây ra nguy cơ mang thai sớm và bệnh lây qua đường tình dục (tuổi trung bình quan hệ tình dục lần đầu tiên ở Việt Nam hiện nay là 17,8 tuổi); bệnh béo phì; rối loạn hành vi ăn uống và tâm thần, kết quả học tập kém và sự sa sút những giá trị sống…

Tiếp xúc với quá nhiều hình ảnh bạo lực từ truyền thông khiến cho trẻ em tin rằng thế giới vốn không thân thiện và đáng sợ, điều đó cũng dẫn đến những hành xử hung hăng một cách dễ dàng. Ở mặt khác, tin tức thời sự về đánh bom, giết người, chết chóc… và cả việc chứng kiến bạo lực trong thực tế cũng khiến trẻ em ngày càng trở nên vô cảm hơn.

Những học sinh cố tình xé lột áo quần bạn trong những video clip bạo hành, những nhân viên công vụ quay video các cô gái mãi dâm khỏa thân một cách thô bạo… đều cho thấy xu hướng vô cảm bệnh hoạn trước thân thể phụ nữ, hay nói chính xác hơn, sự thắng thế của những cảm giác của phần “CON” so với những cảm xúc “NGƯỜI”.

Điều đó không thể không liên quan đến truyền thông giải trí, phần lớn vốn đang tung hô cổ vũ cho những giá trị “gợi cảm” của cơ thể (nữ giới và cả nam giới). Những hình ảnh về sex và khêu gợi nhục cảm tràn ngập trên tivi, quảng cáo, các trang web, tạp chí, thậm chí cả truyện tranh. Truyền thông và báo mạng, vì mục đích thương mại, đo đếm thành công bằng “hit” (số lần truy cập), đã thiên về hướng giải trí, chiều chuộng tối đa phần “con” đó, mà dần quên đi chức năng cung cấp thông tin và những vấn đề xã hội từ tác động của nó.

Quảng cáo cũng góp phần định hướng những giá trị sống và nhân cách cho giới trẻ, bằng những phương cách tinh vi. Cả một hệ thống những tài năng sáng tạo và sản xuất của ngành thương mại quảng cáo đã làm cho giới trẻ tin rằng, uống loại bia này, bạn sẽ là người có bản lĩnh, dùng loại kem này bạn sẽ có tình yêu và gia đình hạnh phúc, đeo đồng hồ nọ mới là phong cách sành điệu và đi đôi giày như thế mới là cá tính. Hình ảnh quảng cáo với những chàng trai, cô gái gợi cảm, quyến rũ… cũng làm cho giới trẻ xem đó là chuẩn mực, từ đó có những cảm giác lệch lạc méo mó về cơ thể và cả nhân cách của mình.

Tuy nhiên, đã quá muộn để nói đến “truyền thông đại chúng” như một cái gì đó tách rời với cuộc sống của giới trẻ hay của tất cả chúng ta. Tivi chiếm nhiều thời gian hơn là các thành viên gia đình trò chuyện cùng nhau, sinh viên vừa đi xe buýt vừa nghe nhạc bằng iPod, cải lương trong một chương trình truyền hình thôn quê cũng xen lẫn quảng cáo cho những sản phẩm hiện đại, các tiệm Internet tràn ngập thanh thiếu niên online thâu đêm, ngay cả những đứa trẻ mục đồng cũng vừa chăn trâu vừa… chơi game trên điện thoại di động…

Các bậc cha mẹ chới với trước thế giới của con trẻ mà họ cay đắng nhận ra, ảnh hưởng của họ trở nên nhỏ bé trước sức hút vô hình nhưng dữ dội của truyền thông đang bủa vây tứ phía. Họ không thể tách các em ra khỏi truyền thông được nữa, đơn giản vì nó đã là phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người.

“Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi”

Đó là tựa đề một cuốn sách của Andrew Mathews, có một triết lý là: chúng ta không thể làm thay đổi được cuộc sống, nhưng có thể thay đổi chính mình; và khi chúng ta thay đổi, cuộc sống tự nó sẽ đổi thay.

Cuốn sách không bàn gì đến truyền thông, nhưng tại sao không áp dụng triết lý đó vào việc đối phó với những tác hại của truyền thông, nếu chúng ta không thể “hô biến” nó? Nếu không thể phủ nhận, cấm đoán truyền thông, điều có thể làm được là tạo cho giới trẻ sức đề kháng với những tác hại của nó, để trở thành những con người có suy nghĩ độc lập và vững vàng chứ không phải chỉ là tiếng dội hay sản phẩm của truyền thông.

Kinh nghiệm đau thương khiến các quốc gia đi trước trong lĩnh vực truyền thông đã đưa ra khá nhiều phương thuốc nhằm tạo sức đề kháng cho giới trẻ.

Hệ thống phân loại phim và các kênh truyền hình ở nhiều nước phương Tây là một ví dụ. Tùy theo tiêu chuẩn của những tổ chức hay hiệp hội phân loại phim của từng nước, phim được các hội đồng thẩm định phân loại theo nhiều mức độ: có thể phổ biến rộng rãi hay chỉ giới hạn cho những độ tuổi nhất định, phim cần lưu ý về bạo lực, ma túy hay tình dục, có những phim được khuyến cáo khán giả cần được tư vấn kỹ trước khi xem… Phim được Hiệp hội Phân loại phim của Mỹ (MPAA) phân loại “PG-13” chẳng hạn, có nghĩa là cha mẹ phải cân nhắc hết sức cẩn thận, trẻ dưới 13 tuổi không nên xem hoặc chỉ được xem dưới sự giám sát của người lớn.

Các bác sĩ nhi khoa và nhân viên tham vấn trẻ em xem “truyền thông” là yếu tố quan trọng nhất trong danh sách những điều lưu ý của họ đối với sức khỏe thể chất và tâm thần của trẻ, trước cả các vật gia dụng liên quan đến trẻ, mũ bảo hiểm, thuốc lá, rượu, chất kích thích… Câu hỏi đầu tiên của họ nếu trẻ em mắc một trong những chứng béo phì, hành vi hung hăng, rối loạn hành vi ăn uống, những rắc rối liên quan tình dục hay ma túy, học tập, thậm chí tự tử, là “mỗi ngày trẻ dành bao nhiêu giờ trước màn hình giải trí?” hoặc “có tivi, Internet, hay mạng kết nối không dây trong phòng ngủ của trẻ không?”.

Trường học nhiều nước đã đưa vào chương trình “xóa mù truyền thông”, không phải dạy các em cách nhắn tin hay lập blog, mà dạy trẻ suy nghĩ phê phán (critical thinking) khi đối diện với truyền thông. Đó là dạy các em cách “đọc” truyền thông dưới những tầng tầng lớp lớp thông tin. Trẻ phải học cách phân biệt đâu là thông tin PR (quan hệ công chúng), đâu là thông tin quảng cáo thương mại, thông tin chính trị, thông tin phi lợi nhuận… từ đó có những ứng xử phù hợp. Đó là cách “chúng ta thay đổi” để hiểu và xây dựng sức đề kháng với truyền thông. Và khi thay đổi như vậy, truyền thông sẽ buộc phải tự thay đổi để có thể đáp ứng đối tượng đã trở nên thông minh và tinh nhạy hơn.

Dù có hay chưa có những chương trình hành động mang tính hệ thống để bảo vệ giới trẻ trước truyền thông, gia đình vẫn là yếu tố quan trọng nhất. Một nghiên cứu của Henry J. Kaiser Family Foundation năm 2010 tại Mỹ cho thấy, trung bình thời gian trẻ dành cho truyền thông trong ngày là bảy tiếng, và có thể lên đến 12 tiếng nếu tính nhiều hoạt động liên quan truyền thông khác. Câu hỏi không thể không đặt ra là, gia đình đã ở đâu trong thời gian và cuộc sống của trẻ?

Có bao nhiêu gia đình tắt tivi trong giờ ăn cơm, để cùng trò chuyện với nhau? Có bao nhiêu người cha bớt thời gian lướt web để cùng con mình thả diều hay chơi thể thao? Có bao nhiêu người mẹ nói chuyện với con mình về giới tính và cùng các em giải quyết những điều bối rối của tuổi mới lớn? Có bao nhiêu bậc cha mẹ cùng xem phim và thảo luận với con mình, hiểu rõ những gì con đang xem, đang suy nghĩ?

Sở dĩ truyền thông có thể mạnh đến thế, là bởi vì con người đã để rời xa nhau trong cuộc đời thực.

TRUYỀN HÌNH CHO TRẺ EM: Thiếu và yếu

(Ghi chép từ hội thảo “Truyền hình cho trẻ em trước những thách thức của thời đại mới” diễn ra tại Cần Thơ cuối tháng 12-2010).

Theo thống kê lịch phát sóng của các đài truyền hình năm 2010, thời lượng phát sóng chương trình thiếu nhi ở đa số các đài địa phương chỉ chiếm tỷ lệ từ 1-2%. Một số đài có tỷ lệ thời lượng phát sóng chương trình thiếu nhi cao như Đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng cũng chỉ chiếm 10,3%; Đài Truyền hình Hà Nội 9,1%. Đài Truyền hình TPHCM chỉ có 3,8%…

– Bà Huỳnh Mai Hương, Đài Truyền hình TPHCM:

“Theo một khảo sát của Trung tâm đào tạo Ý tưởng Việt,TPHCM, kết quả khảo sát sáu tháng đầu năm 2010 tại khu vực TPHCM và các tỉnh, thành lân cận, cho thấy chỉ có khoảng 30-45% các em có xem chương trình truyền hình thiếu nhi (trong đó tỷ lệ các em xem thường xuyên chiếm khoảng 25-30%).

Nguyên nhân khiến khán giả nhỏ tuổi không còn gắn bó với các chương trình truyền hình thiếu nhi như trước là do sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, sự phát triển nhanh chóng và đa dạng các phương tiện thông tin đại chúng khác đã phân tán số “khán giả trung thành” của sóng truyền hình. Một thực tế khác là trẻ em bây giờ “bận rộn” hơn các thế hệ trước rất nhiều. Sau hai buổi học chính khóa ở trường, các em còn phải tham dự nhiều khóa học khác, nhiều sinh hoạt khác.

Nội dung và hình thức thể hiện của một số chương trình thiếu nhi hiện nay chưa theo kịp trí tưởng tượng phong phú và bay bổng của các em. Vẫn tồn tại những kịch bản đơn điệu, khô cứng với cách suy nghĩ của người lớn. Cách thể hiện hình ảnh vẫn đơn giản, ít sáng tạo, chưa đáp ứng được tâm lý và sở thích của trẻ nên chưa có sức lôi cuốn”.

– Nhạc sĩ Thế Long, biên tập viên Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ (CVTV):

“Sự đa dạng và chỉ tiêu sản xuất các chương trình truyền hình thiếu nhi đang dần bị thu hẹp. Chỉ riêng chương trình thiếu nhi tiếng Việt, hai năm gần đây đã giảm đáng kể (năm 2008 chỉ tiêu là 147 chương trình; 2009 giảm chỉ còn 51 chương trình, và 2010 còn 47 chương trình).

Chất lượng các chương trình thiếu nhi hiện nay bị tác động lớn bởi một số yếu tố: Việc đầu tư cho các chương trình thiếu nhi quy mô lớn ngày càng thưa thớt; sân chơi cho thiếu nhi ngày càng ít và hoạt động cầm chừng. Công việc sáng tác các tác phẩm phục vụ thiếu nhi ngày càng ít được quan tâm do thù lao thấp…” .

– Bà Jan Stradling, nhà điều hành sản xuất của Truyền hình trẻ em ABC (Australia):

“Các chương trình truyền hình thiếu nhi cần quan tâm các yếu tố: nổi bật, thực tế, trung thực, mới mẻ, đa dạng, vui vẻ, hóm hỉnh… Người dẫn chương trình truyền hình thiếu nhi cũng rất quan trọng, phải là người có khát vọng, thực sự quan tâm đến trẻ em.

Truyền hình cho thiếu nhi không chỉ là tạo cho các em một kênh giải trí phù hợp nhu cầu và sở thích, mà còn phải mang tính giáo dục, chú trọng những khả năng tác động tích cực cũng như tiêu cực đến các em…”.

Đức Khánh ghi

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới