Thứ Ba, 9/08/2022, 17:42
30 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Nobel Kinh tế cho “Nguyên nhân và hậu quả trong kinh tế vĩ mô”

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Nobel Kinh tế cho “Nguyên nhân và hậu quả trong kinh tế vĩ mô”

Hạ Ninh

Nobel Kinh tế cho “Nguyên nhân và hậu quả trong kinh tế vĩ mô”
Ông Thomas J. Sargent. Ảnh: Nobelprize

(TBKTSG Online) – Giải Nobel Kinh tế 2011 đã được Viện hàn lâm hoàng gia Thụy Điển công bố thuộc về hai nhà kinh tế người Mỹ, Thomas J. Sargent và Christopher A. Sims hôm 10-10.

Ủy ban trao giải Nobel cho hay: “Hai ông được trao giải nhờ những công trình nghiên cứu kinh nghiệm về nguyên nhân và hậu quả trong kinh tế vĩ mô”.

Giáo sư Thomas J. Sargent  hiện giảng dạy tại Đại học New York (Mỹ) và giáo sư Christopher A. Sims hiện giảng dạy tại Đại học Princeton, New Jersey (Mỹ). Hai người từng được dự đoán nhận giải Nobel Kinh tế năm 2008.

Đại diện ủy ban trao giải phát biểu trong buổi công bố giải thưởng: “Sự gia tăng tạm thời tỷ lệ lãi suất hoặc cắt giảm thuế sẽ ảnh hưởng đến GDP và lạm phát như thế nào? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một ngân hàng trung ương tạo ra sự thay đổi lâu dài trong mục tiêu lạm phát hoặc một chính phủ thay đổi mục tiêu cân bằng ngân sách? Năm nay, những người được nhận giải Nobel đã phát triển phương pháp để trả lời những điều này và nhiều câu hỏi khác liên quan đến mối quan hệ nhân quả giữa chính sách kinh tế và các biến số kinh tế vĩ mô khác nhau, chẳng hạn như GDP, lạm phát, việc làm và đầu tư.

Ông Christopher A. Sims. Ảnh: Nobelprize

Những việc xảy ra thường có mối quan hệ hai chiều – chính sách ảnh hưởng đến nền kinh tế, nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến chính sách. Kỳ vọng về tương lai là khía cạnh chính. Những kỳ vọng ở bộ phận tư nhân liên quan đến hoạt động kinh tế trong tương lai và các quyết sách ảnh hưởng đến tiền lương, tiết kiệm và đầu tư. Đồng thời, các quyết sách kinh tế bị ảnh hưởng bởi kỳ vọng về sự phát triển trong khu vực tư nhân. Những phương pháp của các nhà kinh tế trên có thể được áp dụng để xác định các mối quan hệ nhân quả và giải thích vai trò của kỳ vọng. Điều này giúp tạo khả năng xác định ảnh hưởng của các biện pháp chính sách bất ngờ cũng như những thay đổi chính sách hệ thống.

Ông Sargent đã cho thấy nghiên cứu kinh tế vĩ mô khung có thể được dùng để phân tích các thay đổi vĩnh viễn trong chính sách kinh tế. Phương pháp này có thể được áp dụng nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế vĩ mô hộ gia đình và công ty, điều chỉnh kỳ vọng của họ đồng thời với sự phát triển kinh tế.

Ví dụ, thời kỳ sau Thế chiến II, nhiều nước ban đầu có xu hướng thực hiện chính sách lạm phát cao nhưng cuối cùng lại đưa ra những thay đổi hệ thống trong chính sách kinh tế và trở lại là tỷ lệ lạm phát thấp hơn.

Trong khi đó, ông Sims phát triển phương pháp dựa trên cái gọi là “sự tự điều chỉnh véc-tơ” để phân tích nền kinh tế đang bị những thay đổi tạm thời trong chính sách và các yếu tố khác ảnh hưởng như thế nào. Ví dụ, ông Sims và các nhà nghiên cứu khác đã áp dụng phương pháp này để kiểm tra tác động của sự gia tăng tỷ lệ lãi suất của ngân hàng trung ương. Thường phải mất một hoặc hai năm, tỷ lệ lạm phát mới giảm, trong khi tăng trưởng kinh tế giảm dần trong ngắn hạn và không phát triển bình thường trở lại vài năm sau đó.

Mặc dù ông Sargent và ông Sims thực hiện nghiên cứu độc lập, nhưng sự đóng góp của họ bổ sung cho nhau bằng nhiều cách. Những công trình mang tầm ảnh hưởng của họ suốt những năm 1970 – 1980 đã được các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới thông qua. Ngày nay, các phương pháp do ông Sargent và ông Sims phát triển là những công cụ thiết yếu trong phân tích kinh tế vĩ mô.

Năm 2010, công trình nghiên cứu về thất nghiệp và những cản trở trong quá trình tìm việc của người lao động và tìm nhân lực của nhà tuyển dụng đã giúp ba nhà kinh tế Peter A. Diamond (MIT), Dale T. Mortensen (Đại học Northwestern) và Christopher A. Pissarides (London School of Economics) đoạt giải Nobel Kinh tế. Công trình nhìn tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế từ góc độ hành vi cá nhân của người tìm việc và nhà tuyển dụng trong thị trường lao động, nhằm giải thích vì sao thậm chí trong thời kỳ kinh tế thịnh vượng vẫn có người thất nghiệp và doanh nghiệp thiếu nhân lực.

Những nhà kinh tế đã nhận giải thưởng Nobel Kinh tế từ năm 1969 gồm có Milton Friedman, Amartya Sen, James Tobin, Paul Krugman, Robert Solow và Gunnar Myrdal.

Giải Nobel Kinh tế cũng là giải Nobel cuối cùng của năm 2011 được tuyên bố. Các giải thưởng sẽ chính thức được trao vào ngày 10-12, nhân kỷ niệm ngày mất của Alfred Nobel.

(theo Nobelprize)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới