Thứ Tư, 6/07/2022, 14:10
32 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Nói tiếp chuyện đặt tên quán bar là Buddha

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Nói tiếp chuyện đặt tên quán bar là Buddha

Nguyễn Thị Kim Thanh

LTS: Trên TBKTSG số ra ngày 2-4-2020 có bài viết của LS. Nguyễn Thị Hằng về việc lấy tên Đức Phật để đặt tên cho quán bar. Trong số này TBKTSG xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết cùng chủ đề nhưng bàn sâu hơn về vấn đề pháp lý của tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh(*). 

Trong bài viết này, người viết không bàn về sự kiện lây nhiễm, cũng như không mổ xẻ vấn đề theo hướng “quán bar này đăng ký một đàng mà đặt tên một nẻo”, mà đưa ra các ý kiến và cơ sở pháp lý về quyền đặt tên doanh nghiệp, tên thương mại, nhãn hiệu trong hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam. Theo đó người viết thấy rằng các quy định pháp luật trong các lĩnh vực kể trên không cấm việc sử dụng “Buddha” trong đăng ký và sử dụng trong kinh doanh (phạm vi bài viết này loại trừ yếu tố hình vẽ, hình ảnh trong nhãn hiệu).

Nói tiếp chuyện đặt tên quán bar là Buddha
Buddha bar ở quận 2, TPHCM. Ảnh: T.M

Một số từ điển Việt Nam định nghĩa ngắn gọn Buddha là “Đức phật” hay “Phật” và như vậy ý nghĩa của từ này trong tiếng Việt liên quan đến một tôn giáo là Phật giáo.

Có vi phạm pháp luật không?

Dấu hiệu hiển thị bên ngoài để gọi, phân biệt các chủ thể kinh doanh với nhau là tên doanh nghiệp và tên thương mại; dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể này với chủ thể khác là nhãn hiệu.

Tên doanh nghiệp là tên được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp khi được cấp phép thành lập. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014, tên doanh nghiệp gồm 2 thành tố chính đó là loại hình doanh nghiệp và tên riêng. Thành tố “tên riêng” là nơi thể hiện sự sáng tạo và dấu ấn riêng giúp phân biệt các doanh nghiệp với nhau.

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp tại điều 39:

“1. Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký.

2. Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó.

3. Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.”

Một trong những khả năng có thể được đem ra tranh luận về tên quán bar là vi phạm quy định cấm về “sử dụng từ ngữ, ký hiệu”. Theo quan điểm của người viết, không có cơ sở pháp lý cho lập luận trên vì về mặt ngữ nghĩa cụm “truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục” không gắn với yếu tố tôn giáo, vì:

Theo tìm hiểu của người viết, “Buddha – Bar” là một thương hiệu khá nổi tiếng ở phạm vi quốc tế (https://www.buddhabar.com/), nằm trong chuỗi các nhà hàng, khách sạn, spa, bar ở các nước khác nhau như Anh, Pháp, Dubai…, những đất nước tôn giáo chính không phải là Phật giáo.

– Truyền thống lịch sử là danh từ ghép bởi danh từ “truyền thống” và tính từ “lịch sử”. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2003, “truyền thống” là thói quen hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác; “lịch sử” là thuộc về quá trình phát sinh, phát triển đã qua cho đến tiêu vong của một hiện tượng, một sự vật nào đó. Như vậy truyền thống lịch sử được hiểu là thói quen, cách suy nghĩ, lối sống có quá trình hình thành và phát triển gắn với lịch sử một dân tộc.

– Văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục: Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2003, “Văn hóa” là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; “Đạo đức” là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội; “Thuần phong mỹ tục” là những thói quen, tục lệ tốt đẹp lành mạnh đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo. Nhìn chung các cụm từ trên được hiểu là toàn bộ những hành vi, quan niệm đạo đức, lối sống tốt đẹp, được hình thành trong quá trình lịch sử của một dân tộc, được ổn định thành nề nếp suốt hàng trăm năm, được xã hội công nhận, được giáo dục và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Cả hai yếu tố trên đều có đặc tính là được hình thành, thừa nhận rộng rãi trong xã hội trong thời gian dài, không có sự phân biệt giai tầng và đảng phái và đặc biệt là không có ý nghĩa liên quan đến yếu tố tôn giáo. Do vậy quan điểm của người viết là nếu có doanh nghiệp sử dụng từ “Buddha” để đặt tên cho doanh nghiệp thì việc đặt tên như vậy cũng không vi phạm điều cấm của pháp luật.

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh (điều 4.21 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi năm 2009, 2019, sau đây gọi tắt là “Luật SHTT”).

Quyền sở hữu đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó. Đối với pháp nhân, kinh nghiệm của người viết thấy rằng một trong những cơ sở dễ dàng để xác định thời điểm sử dụng hợp pháp tên thương mại là thời điểm được cấp giấy phép thành lập (giả định doanh nghiệp hoạt động sau khi được thành lập). Như vậy một trong những cơ sở để đánh giá khả năng phân biệt của tên thương mại là gắn liền với quá trình đăng ký thành lập pháp nhân và có thể nói tên thương mại cũng tuân thủ quy định về đặt tên của doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp.

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được hình thành trên cơ sở sự sáng tạo của mỗi chủ thể, có thể chỉ là chữ viết, chữ số, hình ảnh (gọi chung là dấu hiệu) hoặc kết hợp các dấu hiệu với nhau để tạo ra một biểu tượng nhận biết đặc trưng.

Tương tự tên thương mại, nhãn hiệu chỉ được bảo hộ khi đáp ứng điều kiện quan trọng là “khả năng phân biệt” và không thuộc các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu. Điều 73 Luật SHTT chỉ ra các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu bao gồm những dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhẫm lẫn với:

– Hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

– Biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

– Tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

– Dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận.

Đối chiếu với quy định trên về nhãn hiệu, có thể thấy dấu hiệu “Buddha” không thuộc các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu. Dữ liệu công khai về tình trạng đăng ký nhãn hiệu tại cổng thông tin điện tử của Cục SHTT VN đã minh chứng cho nhận định trên vì đã có hai văn bằng bảo hộ nhãn hiệu số 0126733 cấp ngày 9-6-2009 và 0190351 cấp ngày 28-8-2012 cấp cho nhãn hiệu có dấu hiệu “Buddha” và hình vẽ(1).

Qua các phân tích trên và như người viết đã thể hiện quan điểm ở phần đầu, pháp luật Việt Nam không có quy định cấm về việc sử dụng các từ ngữ liên quan đến tôn giáo trong việc đặt tên doanh nghiệp, tên thương mại, nhãn hiệu và sử dụng trong kinh doanh.

Có thể ra quyết định tước bỏ tên của cơ sở kinh doanh (Buddha Bar) không?

Quy trình xem xét, xử lý một hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến áp dụng một hình thức xử phạt trải qua các bước:

(i) Ghi nhận thực tế hành vi.

(ii) Xác định có tồn tại hành vi vi phạm pháp luật hay không? Nếu có thì vi phạm quy định và lĩnh vực cụ thể nào?

(iii) Sau khi đã xác định được hành vi vi phạm, đối chiếu với quy định pháp luật tương ứng và xem xét mức độ vi phạm để quyết định hình thức xử phạt phù hợp. Trường hợp ngược lại, không có căn cứ để kết luận có tồn tại một hành vi vi phạm.

Người viết không có điều kiện kiểm tra chính xác mối liên hệ giữa từ “Buddha” với tên doanh nghiệp là chủ sở hữu quán bar, cũng như nhãn hiệu, vậy nên người viết có những giả định sau:

(i) Buddha là thành phần tên riêng trong tên doanh nghiệp đã đăng ký và là tên thương mại. Điều 18 Nghị định 78/2015/NĐ-CP: “Phòng Đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và quyết định của Phòng Đăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng”. Trong thủ tục đăng ký thành lập doang nghiệp, ngay từ đầu Phòng đăng ký kinh doanh đã kiểm tra cơ sở dữ liệu về tên dự kiến. Có thể thấy rằng, nếu doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì tên doanh nghiệp đã được chấp thuận và quá trình sử dụng không có chủ thể nào chỉ ra tên doanh nghiệp vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của cá nhân/tổ chức khác thì không có cơ sở để xác định hành vi sử dụng dấu hiệu “Buddha” là vi phạm.

(ii) Giả định người đứng tên trên văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cũng là người kinh doanh thực tế quán bar đó thì rõ ràng không thể tồn tại hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào xảy ra.

Khi đã không có hành vi vi phạm thì không một biện pháp xử phạt nào được áp dụng nên sẽ không thể tước bỏ tên của cơ sở kinh doanh này.

Ở một góc độ khác, nếu quán bar này kinh doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại từ chủ sở hữu thương hiệu “Buddha – Bar”, thì việc sử dụng cụm “Buddha” trong lãnh thổ Việt Nam có thể dưới dạng tên thương mại, nhãn hiệu (còn có thể là biểu tượng kinh doanh, quảng cáo,…) là nghĩa vụ bắt buộc của bên nhận nhượng quyền theo quy định tại điều 284.1 Luật Thương mại 2005.

Theo tìm hiểu, “Buddha – Bar” là một thương hiệu khá nổi tiếng ở phạm vi quốc tế (https://www.buddhabar.com/), nằm trong chuỗi các nhà hàng, khách sạn, spa, bar ở các nước khác nhau như Anh, Pháp, Dubai…, những đất nước tôn giáo chính không phải là Phật giáo. Trên thực tế, đã có khá nhiều tranh cãi và chỉ trích về tên quán bar này, đặc biệt ở một số quốc gia mà Phật giáo là tôn giáo chính. Tuy vậy, trừ khi có căn cứ pháp lý rõ ràng về việc tổ chức, cá nhân vi phạm điều cấm của pháp luật trong đặt/sử dụng tên doanh nghiệp, tên thương mại, nhãn hiệu thì cơ quan có thẩm quyền không thể căn cứ vào các tranh cãi hay phản ứng từ dư luận để hủy bỏ, thu hồi hay tước quyền sử dụng tên thương mại, tên doanh nghiệp, nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân đó.

(*) Luật sư tập sự Công ty Luật TNHH MTV Lawlink Việt Nam
(1) http://wipopublish.noip.gov.vn/wopublish-search/public/home;jsessionid=44A5C5FF19D7D9337A54DC6EEE941164?0&fbclid=IwAR3dqVT6s-NvGBjWcKAhNfNVKljHzr_iG8z0EErmO-0VoDHzcS3zheNOoTY)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới