Thứ Sáu, 30/09/2022, 17:10
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Phát triển đô thị hướng đến người nghèo  

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Phát triển đô thị hướng đến người nghèo  

Ông Lưu Đức Hải, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị – Ảnh: HẠNH LIÊN

(TBKTSG Online)- Phát triển đô thị bền vững đang được xác định là mục tiêu hướng tới của các đô thị Việt Nam. Trong mục tiêu hướng tới ấy đã có chỗ cho người nghèo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kịch bản toàn diện về phát triển bền vững tại các khu đô thị, thì cách thức cụ thể trợ giúp người nghèo về mặt tài chính để họ cải thiện nhà ở vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ khiến việc triển khai nhà ở cho người có thu nhập thấp như “ném đá ao bèo”.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online đã có cuộc trao đổi với ông Lưu Đức Hải, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng về một số vấn đề liên quan đến những thách thức của việc phát triển đô thị bền vững.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online: Thưa ông, có phải việc phát triển đô thị nóng tại nước ta đang đặt người nghèo thành thị trước những khó khăn lớn về nhà ở?  

Cục trưởng Lưu Đức Hải: Đa phần các nhận định của giới chuyên môn đều cho rằng Việt Nam đang nằm trong xu hướng đô thị hoá mạnh mẽ trên toàn cầu.

Theo một đánh giá của phòng Phòng phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, chỉ riêng tại các nước đang phát triển, dự báo diện tích xây dựng đô thị sẽ tăng thêm 400.000km2 vào năm 2030. Con số này bằng tổng diện tích đất đô thị của toàn thế giới năm 2001. Riêng Trung Quốc sẽ xây thêm khoảng 16% trong số 400.000km2 đó. Việt Nam đang đứng trong danh sách các quốc gia có tốc độ tăng dân số đô thị nhanh nhất thế giới. Hiện nay, mỗi năm Việt Nam tăng thêm 1 triệu dân đô thị.

Trong 20 năm tới, cùng với Việt Nam, khu vực Đông Nam Á sẽ có thêm 500 triệu dân đô thị. Áp lực về đô thị tăng cao, đồng nghĩa với việc phân cấp giàu nghèo càng thêm sâu sắc. Giá nhà đất như tình hình hiện nay thì người nghèo không thể nào sở hữu được ngay cả loại nhà thấp nhất. Làm thế nào để quy hoạch và phát triển đô thị mà mọi đối tượng đều được tính đến, đặc biệt là người nghèo thành thị, những người thực sự cần cải thiện đời sống và thoát nghèo. Chỉ khi đời sống của người nghèo thành thị được cải thiện, sự phát triển của đô thị Việt Nam mới có thể bền vững.

Theo một báo cáo về các chỉ số nghèo quốc gia gần đây, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam năm 2001 vào khoảng 17%, tương đương với khoảng 2,8 triệu hộ. Trong đô thị, người nghèo thường ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ môi trường, xã hội cơ bản và là đối tượng có nhiều nguy cơ phải gánh chịu các rủi ro từ bệnh tật, lạm phát kinh tế, biến đổi khí hậu và thảm họa tự nhiên. Chiến lược then chốt về giảm nghèo đô thị là phải có đại diện của mọi tầng lớp xã hội tham gia vào quá trình quy hoạch đô thị, để cư dân địa phương có thể có tiếng nói về những gì họ xem là các yêu cầu và vấn đề phát triển quan trọng nhất trong khu vực họ sống.

Những đối tượng nào sẽ trực tiếp bị ảnh hưởng từ tốc độ đô thị hóa nóng này, thưa ông?

5 năm qua, quỹ nhà ở tại khu vực đô thị bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 17,5 triệu m2. Trong đó, quỹ nhà ở do các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản tham gia đầu tư xây dựng chiếm khoảng 25%. Riêng Hà Nội mỗi năm phát triển thêm khoảng 1,2 triệu m2, TPHCM mỗi năm tăng thêm 3,5 triệu m2. Tỷ lệ tăng trưởng nhà ở đô thị bình quân hàng năm đạt trên 15%.

Đến nay, trên phạm vi cả nước đã có khoảng 170 khu công nghiệp tập trung được lập quy hoạch chi tiết, trong đó có khoảng 150 khu công nghiệp, khu chế xuất đã đi vào hoạt động hoặc triển khai xây dựng hệ thống hạ tầng. Các khu công nghiệp được hình thành trên địa bàn gần 50 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã tạo việc làm cho hàng vạn người lao động. Tuy nhiên, cũng chính từ sự phát triển này, số lượng dân số di cư từ nông thôn lên thành thị tăng cao đặt ra nhu cầu về chỗ ở tăng cao. Những đối tượng này đa phần đều có thu nhập thấp. Vì vậy, quỹ nhà ở đô thị không thể nào gánh nổi. Những công nhân làm việc tại các khu công nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn rất lớn về nhà ở.

Từ trước tới nay, các quy hoạch khu công nghiệp chỉ “vẽ” lên bức tranh về nhà máy xí nghiệp chứ không bị bắt buộc phải quy hoạch nhà ở cho công nhân. Nhà ở cho công nhân có hay không phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm của chủ đầu tư. Mà điều này có vẻ như không thực tế đối với những nhà đầu tư luôn đặt lợi nhuận làm tiêu chí hàng đầu. Sắp tới, chúng tôi sẽ có một sự đổi mới trong quy hoạch các khu công nghiệp. Sẽ không chỉ là quy hoạch các khu công nghiệp mà còn mở rộng ra là quy hoạch điểm dân cư khu công nghiệp. Có nghĩa là, khu công nghiệp chỉ là một bộ phận của khu dân cư. Chỗ ở cho công nhân được yêu cầu như một bộ phận không thể thiếu của khu công nghiệp. Cơ hội cải thiện chỗ ở cho công nhân sẽ có.  

Thưa ông, các nước khác phát triển đô thị ra sao?  

Nhìn sang láng giềng, Hàn Quốc từng ở trong tình trạng thiếu nhà ở nghiêm trọng từ những năm 1980, đặc biệt là ở những khu đô thị. Trong những năm 1980, chính phủ nước này đã ban hành luật đẩy mạnh phát triển đất đai phục vụ cho nhà ở để nhanh chóng cung cấp đất đai có mục đích nhà ở trên quy mô rộng.

Luật này quy định việc thu hồi, phát triển và cung cấp đất. Nhiều dự án phát triển đô thị mới được thực hiện theo luật này bởi các cơ quan phát triển nhà nước như Tổng công ty nhà ở Hàn Quốc, Tổng công ty đất đai Hàn Quốc và các cơ quan địa phương các khu đô thị mới như Bundang, Ilsan và Sabon được xây dựng tại khu đô thị Seoul từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990. Các khu đô thị mới Dongtan, Seongnam Pangyo, Suwon Y-eui, Asan được xây dựng liên tiếp trong những năm 2000. Nhà ở cho thuê quốc gia là một loại hình nhà ở cho thuê công cộng được Quỹ nhà ở quốc gia hỗ trợ, với thời gian thuê trên 30 năm, và diện tích dưới 59m2.

Liệu chiến lược phát triển đô thị bền vững của chúng ta có cơ hội cho người nghèo đô thị?

Hiện Bộ Xây dựng đã tổ chức nghiên cứu chiến lược nâng cấp đô thị quốc gia và kế hoạch đầu tư tổng thể nâng cấp đô thị đến năm 2020 do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Chương trình sẽ được trình Chính phủ trong thời gian tới. Trong đó, người nghèo đô thị chính là đối tượng được quan tâm đặc biệt. Theo đó, sẽ đưa ra một hệ khung gồm cơ chế chính sách, kế hoạch đầu tư và thực hiện, xây dựng hệ thống tiêu chí để đánh giá phân loại cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của khu vực thu nhập thấp trong đô thị, tiêu chí phát triển và cải thiện mức sống cho từng đô thị. Dựa vào đó, chính quyền các đô thị và các nhà đầu tư có thể phối hợp nâng cấp đô thị có hiệu quả.

Mục tiêu là trực tiếp tham gia vào công tác xóa đói giảm nghèo thông qua nâng cấp đô thị. Chương trình này được triển khai tại các khu đô thị từ loại 4 trở lên. Dự báo đến năm 2010, dân số của Việt Nam là khoảng 89 triệu người với khoảng 28,5 triệu (32%) sống trong các đô thị. Đến 2020, dân số sẽ vượt 104 triệu người với 41,6 triệu (40%) người sống tại các khu vực đô thị.

Tỷ lệ tăng dân số cả nước vào khoảng 1,38%/năm trong giai đoạn từ 2000 đến 2010 và là 1,17%/năm trong giai đoạn 2010-2020. Dân số đô thị được tính sẽ tăng với tỷ lệ 8,9%/năm trong những năm trước 2010 và tăng 6,5% trong giai đoạn 2010-2020. Việc tiếp tục tăng dân số đô thị sẽ làm tăng mọi yêu cầu về các dịch vụ và cơ sở vật chất đô thị. Vì thế, một chiến lược để phát triển đô thị bền vững, trong đó có quy hoạch đô thị cho người nghèo là điều hết sức cần thiết  

Thưa ông, phải chăng tốc độ phát triển đô thị quá nhanh nhưng lại không bền vững cũng đặt ra những thách thức lớn về môi trường?

Đúng vậy. Đô thị hóa nhanh sẽ gây áp lực lên tài nguyên và môi trường. Nếu không có biện pháp bảo vệ môi trường tương ứng sẽ không đảm bảo phát triển đô thị bền vững. Sẽ có nhiều thách thức lớn về môi trường đối với sự phát triển đô thị bền vững mà Việt Nam đang phải đối mặt. Trong những thách thức đó, có nhiều yếu tố do chính con người tạo ra.

Yếu tố đầu tiên là quy hoạch phát triển công nghiệp trong vùng đô thị không phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường đô thị. Đô thị hóa và mở rộng đô thị đã làm cho nhiều nhà máy và các khu công nghiệp trước đây nằm ở ngoại ô thành phố nay lọt vào giữa các khu dân cư đông đúc, dân cư bám sát hàng rào nhà máy và các nguồn thải ô nhiễm của công nghiệp đã tác động trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng. Quy hoạch bố trí các khu công nghiệp mới, các nhà máy xí nghiệp mới ở nhiều đô thị cũng chưa xem xét đầy đủ đến yêu cầu bảo vệ môi trường đối với đô thị.

Hiện nay, hầu hết các đô thị lớn ở Việt Nam còn tồn tại các khu “nhà ổ chuột”, xóm liều, xóm bụi, xóm vạn đò. Tình trạng nhà ở, môi trường nước, môi trường không khí, chất thải rắn và vệ sinh môi trường ở các khu nhà ổ chuột này rất kém. Các khu dân cư nghèo này ít được tiếp cận với dịch vụ môi trường đô thị. Xoá đói giảm nghèo, xoá bỏ các khu nhà ổ chuột này rất khó khăn khi khoảng cách mức sống, điều kiện tìm kiếm việc làm giữa thành thị và nông thôn ngày càng xa. Tốc độ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị chậm hơn rất nhiều so với tốc độ đô thị hóa và tốc độ gia tăng phương tiện giao thông cơ giới.

Diện tích đất giao thông đô thị không đủ, mạng lưới đường giao thông phân bố không đồng đều, không đảm bảo chất lượng. Theo số liệu thống kê, tại các đô thị lớn, các chỉ tiêu về hạ tầng giao thông rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 35-40% so với nhu cầu. Cụ thể, tại nội thành Hà Nội, diện tích đất giao thông chiếm khoảng 7,8%, mật độ đường đạt 3,89 km/km2. Tại nội thành TPHCM diện tích đất giao thông chỉ khoảng 7,5%, mật độ đường đạt 3,88 km/km2. Trong khi đó, ở nhiều thành phố tiên tiến trên thế giới tỷ lệ diện tích giao thông chiếm tới 15-18%.

Hệ thống cấp nước, thoát nước ở Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng tương tự như ở nhiều khu đô thị khác trong cả nước đều là hệ thống chắp vá giữa khu cũ và khu mới. Chất lượng nước cấp chưa đảm bảo đầy đủ tiêu chuẩn vệ sinh, tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch còn thấp, trong khoảng 50-80%. Với nước thải, 100% nước thải đô thị chỉ xử lý sơ bộ rồi đổ thẳng vào sông, hồ, gây ô nhiễm trầm trọng môi trường nước.

Do địa hình thấp và hệ thống thoát nước đô thị yếu kém, diện tích cây xanh và ao hồ suy giảm, nên ở nhiều thành phố thường xảy ra tình trạng úng ngập trong mùa mưa. Khi quyết định đô thị hóa từ làng xã thành phường, thường chưa xem xét đầy đủ đến tác động môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, trong tổ chức không gian đô thị và trong thiết kế xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị. Trong nhiều trường hợp, quyết định làng xã thành phường chỉ vì mục đích tăng số dân đô thị để đô thị được nâng cấp, hoặc với mục đích lấy đất của làng xã để phát triển các công trình đô thị.

Lẽ ra, trước tiên phải thúc đẩy phát triển kinh tế làng xã bằng nội lực và ngoại lực, chuyển dần từ kinh tế nông nghiệp thành kinh tế đô thị. Người dân chuyển dần từ lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp thì đô thị hóa làng xã mới phát triển bền vững. Trong quá trình đô thị hóa làng xã, chỉ chú trọng xây dựng đô thị mới trên các khoảnh đất canh tác, rất ít quan tâm đến quy hoạch cải tạo khu cũ. Đặc biệt là không có sự liên thông, hòa nhập về quy hoạch giao thông, quy hoạch hệ thống cấp nước, thoát nước, hệ thống năng lượng, hệ thống thông tin, hệ thống dịch vụ đô thị giữa khu đô thị mới và dân cư làng xã cũ.

Môi trường nước ở đô thị nước ta đã bị ô nhiễm trầm trọng. Và sự ô nhiễm này sẽ còn tiếp diễn trong 10-15 năm nữa. Nước thải từ sinh hoạt đô thị là nguyên nhân chính (chiếm tỷ lệ 70-80%) gây ra ô nhiễm các chất hữu cơ đối với môi trường nước ở đô thị. Tình trạng ngập úng đô thị trong mùa mưa chưa thể khắc phục.

Tỷ lệ cây xanh ở các đô thị lớn của nước ta còn rất nhỏ so với tiêu chuẩn yêu cầu. Thí dụ ở Hà Nội là 6,5 m2/người, TPHCM là 4 m2/người và Đà Nẵng là 2,33 m2/người.

 

Dự kiến tổng chi phí dự toán cho nâng cấp 95 đô thị từ loại 4 trở lên khoảng 172.349 tỉ đồng. Trong đó, nâng cấp phần hạ tầng đô thị cấp 1 và 2, chi phí là 38.840 tỉ đồng. Chi phí nâng cấp cho hạ tầng cấp 3 là 112.178 tỉ đồng. Chi phí tái định cư dự toán là 7.004 tỉ đồng. Chi phí cho hợp phần cho vay cải tạo nhà là 6.118 tỉ đồng. Chi phí dự toán cho hợp phần nâng cao năng lực là 8.207 tỉ đồng. 

Quản lý chất thải rắn đô thị đang là một thách thức lớn đối với đô thị hóa. Dân số đô thị tăng lên khiến tốc độ chất thải rắn tăng lên. Ví dụ như ở Hà Nội và Hải Phòng trước năm 1995, mỗi người dân chỉ thải bình quân khoảng 0,5 đến 0,8kg chất thải rắn mỗi ngày, đến cuối năm 2002 đã tăng lên 0,8 đến 1,2 kg/ngày.

Ô nhiễm môi trường không khí đô thị ngày càng tăng. Năm 1996, tổng số các loại ô tô ở nước ta mới có khoảng trên 200 nghìn xe, tổng số xe máy mới khoảng 4 triệu xe. Sau 10 năm, đến năm 2006 tổng số ô tô đã lên tới 650 nghìn xe và tổng số xe máy đã đạt tới khoảng 18,5 triệu xe. Như vậy đã tăng gần 3,3 lần đối với ô tô và hơn 4,6 lần đối với xe máy. Số lượng này sẽ còn tiếp tục tăng nữa và sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm chủ yếu đối với môi trường không khí đô thị.  

Thưa ông, sắp tới sẽ có rất nhiều khu đô thị mới mọc lên đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho người dân đô thị. Vậy chúng ta sẽ có biện pháp gì nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường?

Đó chính là lồng ghép các vấn đề môi trường vào quy hoạch đô thị. Để hình thành khung pháp lý, Bộ Xây dựng đã ban hành Nghị định số 08/2005/ND-CP về quy hoạch xây dựng vào đầu năm 2005. Trong đó yêu cầu đánh giá tác động môi trường và đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động ngược chiều đối với tất cả các đồ án quy hoạch đô thị.

Hơn nữa, Bộ Xây dựng hiện đang tiếp tục xây dựng khung pháp lý về quy hoạch môi trường đô thị mang tính tham gia thông qua các dự án hỗ trợ phát triển. Để hoàn thiện công tác quy hoạch đô thị và điều chỉnh những quy định đã lạc hậu, Bộ Xây dựng đang soạn thảo Luật Quy hoạch đô thị và sẽ trình lên Chính phủ xem xét vào tháng 7 tới, trong đó có lồng ghép những quy định về vấn đề môi trường vào quy hoạch đô thị.

Hiện tại, các nước trên thế giới đa phần đều có một bộ luật về quy hoạch, giúp quản lý sự phát triển của đô thị được bài bản và đồng bộ. Nhưng tại Việt Nam, những quy định về quy hoạch đô thị chỉ chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong Luật Xây dựng.

Xin cảm ơn ông. 

  HẠNH LIÊN thực hiện

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới