Chủ Nhật, 25/09/2022, 22:04
25 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Tận dụng chất xúc tác từ hội nhập để phát triển

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Tận dụng chất xúc tác từ hội nhập để phát triển

Trần Lê Anh (*)

Sản xuất hàng mỹ nghệ xuất khẩu ở một doanh nghiệp tại TPHCM. Ảnh: Lê Toàn.

(TBKTSG) – Hơn bao giờ hết, công cuộc mở rộng giao thương trong thập niên qua đã tạo ra những điểm nhấn nổi bật trong quá trình phát triển của Việt Nam. Nếu như việc thông qua Hiệp định Thương mại song phương Việt-Mỹ (BTA) vào cuối năm 2001 đã đánh dấu một cái mốc quan trọng trong nỗ lực mở cửa nền kinh tế thì việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào đầu năm 2007 đã mở ra một giai đoạn hội nhập toàn cầu cho nền kinh tế Việt Nam.

(Nhân đọc cụm bài Ba năm gia nhập WTO – TBKTSG số ra ngày 15-4-2010)

Những sự kiện này chứng tỏ Việt Nam đã coi việc đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những động cơ chính cho tăng trưởng kinh tế. Thực tế đã cho thấy, ngoài việc giúp giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người dân và thu về ngoại tệ, sự gia tăng xuất khẩu do tăng cường hội nhập cũng kéo theo hai hiện tượng khá tích cực khác cho nền kinh tế nói chung.

Một là, dòng chảy đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã gia tăng đồng thời với việc mở cửa thương mại. Nhiều dự án FDI đã tận dụng được nhân công giá rẻ và cơ hội thâm nhập các thị trường xuất khẩu mới mà Việt Nam có được để sản xuất hàng xuất khẩu. (Mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp chưa tới 19% cho GDP nhưng đã chiếm hơn 55% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam).

Hai là, khi Việt Nam thực thi các cam kết BTA và WTO để đổi lại việc mở rộng thị trường xuất khẩu, Việt Nam đã có những bước tiến tương đối khả quan trong việc cải thiện hệ thống pháp lý và xây dựng dần những nền tảng của kinh tế thị trường. Những điểm tích cực này rõ ràng đã giúp cải thiện hiệu suất của nền kinh tế cũng như thúc đẩy hơn nữa tiến trình cải tổ.

Từ những biến chuyển này, có thể khẳng định rằng hội nhập là tối cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước. Tuy nhiên, do những yếu kém nội tại nên Việt Nam phải gánh chịu một số hệ quả tiêu cực đáng quan tâm.

Sau hơn ba năm gia nhập WTO, có thể thấy cái giá mà Việt Nam phải trả cho những lợi ích có được cũng không phải nhỏ. Hiện tượng thâm hụt thương mại cao, sự thua thiệt của khu vực nông thôn, tình trạng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong xã hội, và những tiêu cực nảy sinh trong quá trình thu hút FDI là những vấn đề nhức nhối, thể hiện khả năng hội nhập vẫn còn thấp của Việt Nam như bài “Ba năm bước vào đấu trường WTO” (TBKTSG số 16 ra ngày 15-4-2010) đã nêu.

Kinh nghiệm ở các nước khác cho thấy, những khó khăn tạm thời nảy sinh sau khi gia nhập WTO của những nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam là luôn có. Tuy nhiên, những vấn đề nan giải khá trầm trọng ở Việt Nam có nguyên nhân chính từ những bất cập của chính sách.

Tình trạng thiếu thông tin (hoặc thông tin không chính xác), việc chạy theo thành tích tăng trưởng kinh tế từ trung ương đến địa phương, vấn nạn tham nhũng, cũng như tác động của các nhóm đặc quyền đặc lợi là những nguyên nhân chính làm giảm khả năng đưa ra những chính sách tốt nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của hội nhập.

Cũng chính vì thế cho nên khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam chưa thể phát huy được trong lúc cần thiết nhất, khi phải đương đầu với những áp lực cạnh tranh gia tăng do hội nhập gây ra. Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam liên tục bị tụt hạng mỗi năm trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (Việt Nam xếp thứ thứ 64 trong báo cáo năm 2006-2007 nhưng tụt xuống đến thứ 75 trong năm 2009-2010).

Các nhà phân tích cho rằng cần phải tái cấu trúc nền kinh tế để có thể tăng tính cạnh tranh của nó. Họ chỉ ra rằng cần phải nâng cao hiệu suất của khu vực kinh tế nhà nước, thúc đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, phát triển công nghiệp phụ trợ…

Tất cả những điều đó tất nhiên là cần thiết cho Việt Nam. Nhưng một khi có quá nhiều bất cập trong quá trình làm chính sách thì việc biến những đề xuất trở thành hiện thực là một điều không dễ. Việc đưa ra một chính sách sáng suốt và đồng bộ đã khó, việc thực thi một chính sách trong thực tế lại càng khó hơn.

Có thể thấy nạn tham nhũng đã làm giảm khả năng ban hành và thực thi được những chính sách có hiệu quả, đến nơi đến chốn. Giảm thiểu tham nhũng là gỡ bỏ dần lực cản lớn nhất đang kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Ở khía cạnh này, đẩy mạnh tiến trình hội nhập sâu rộng và thực thi tốt các cam kết quốc tế sẽ tạo ra một tiền đề vững chãi để góp phần đẩy lùi tham nhũng. Có thể thấy hai khía cạnh tích cực sau. Thứ nhất, các thể chế sẽ dần được cải thiện theo hướng nâng cao hiệu suất và tính minh bạch trong toàn xã hội. Thực tế ở nhiều nước đã cho thấy rằng sự lành mạnh của thể chế có tỷ lệ nghịch với mức độ tham nhũng.

Thứ nhì, khi nền kinh tế có độ tự do hóa cao thì sẽ có ít khe hở hơn để tham nhũng phát sinh. Ví dụ, khi xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu (quota) thì sẽ không còn các trường hợp đút lót để chạy quota. Tương tự như vậy, thực thi tốt Đề án 30 để cắt giảm các thủ tục hành chính cũng là một điểm tích cực để khép bớt lại các khe hở tạo điều kiện cho tham nhũng.

Bên cạnh việc phát huy nội lực để tận dụng chất xúc tác có được từ hội nhập nhằm xây dựng thể chế và đẩy mạnh tiến trình tự do hóa nền kinh tế thì Việt Nam cũng cần tận dụng sự giúp đỡ của ngoại lực để bổ sung cho quá trình này. Theo đây, có thể thấy ảnh hưởng tích cực của Mỹ và Nhật trong công cuộc hội nhập của Việt Nam.

BTA không những đã làm cho Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam mà còn “lót đường” cho Việt Nam gia nhập WTO một cách thuận lợi hơn. Thông qua Dự án hỗ trợ thúc đẩy thương mại, Hoa Kỳ đã giúp đỡ Việt Nam biên soạn và ban hành hàng trăm luật lệ phù hợp hơn với tiêu chuẩn quốc tế, làm tăng thêm mức độ hấp dẫn của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam sẽ có lợi khi tận dụng tối đa sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, một nước có hệ thống pháp lý phát triển thuộc hàng đầu của thế giới, để có những chính sách cải tổ pháp lý mạnh mẽ hơn.

Nhật Bản cũng đã có những đóng góp không nhỏ cho quá trình phát triển của Việt Nam thông qua viện trợ ODA, thương mại, và đầu tư. Với việc thực thi Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật, Việt Nam có thể tận dụng thời cơ để thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản chuyển bớt dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam trong quá trình thực hiện chiến lược “Trung Quốc + 1” của họ.

Thực tế đã cho thấy nguồn FDI từ Nhật tập trung vào các hoạt động sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn các nguồn FDI đến từ các nền kinh tế châu Á khác, chẳng hạn như Trung Quốc và Đài Loan. Do đó, Việt Nam có thể đẩy nhanh được quá trình chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp khi thu hút được nhiều FDI từ Nhật hơn.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải sử dụng nguồn ODA của Nhật một cách có hiệu quả. Chính phủ nên tập trung hướng nguồn ODA này về khu vực nông thôn để đẩy mạnh phát triển ngành nông nghiệp và bù đắp cho những ảnh hưởng tiêu cực từ hội nhập mà người nông dân phải gánh chịu. Được như vậy thì mới sử dụng tốt yếu tố ngoại lực, không đánh mất cơ hội và để lại hệ quả tiêu cực về sau.

____________________________

(*) Giáo sư Đại học Lasell, Boston

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới