Thứ Bảy, 18/09/2021, 13:58
31 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Tăng trưởng kinh tế hay bảo vệ môi trường?

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Tăng trưởng kinh tế hay bảo vệ môi trường?

Tư Giang

Tăng trưởng kinh tế hay bảo vệ môi trường?
Nông dân thu hoạch tôm thẻ chân trắng ở ĐBSCL. Ảnh: Quách Vũ.

(TBKTSG) – Thật khó tìm ra điểm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ được môi trường ở Việt Nam, song ít nhất Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã cho thấy những bất cập trên con đường đi tới điểm cân bằng đó.

Bất cập nảy sinh

Khi cảnh sát môi trường phát hiện ra vụ Vedan xả thải trực tiếp ra sông mấy năm trước, họ đã yêu cầu lãnh đạo công ty này đưa ra bản đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được lập khi xây nhà máy. Tuy nhiên, văn bản này đã biến mất. Cục phó Cục Cảnh sát môi trường, ông Lương Minh Thảo, nhớ lại: “Khi chúng tôi yêu cầu cung cấp bản ĐTM, Vedan chỉ đưa ra một bản photo chả có nội dung gì, và bảo luật không bắt phải trình bản chính”. Đại diện Vedan khẳng định đã gửi bản ĐTM duy nhất lên Sở Tài nguyên môi trường. Đến lượt Cục Cảnh sát môi trường đề nghị sở giúp tìm lại văn bản này, nhưng sở cũng bất lực. Ông Thảo kể tiếp: “Hơn một tháng sau sở cũng không tìm ra, bảo bàn giao qua nhiều đời, nay không còn biết ở đâu”. Vì thế, ông Thảo nói, cảnh sát môi trường “không có một căn cứ nào cho thấy Vedan thải loại bao nhiêu lít, bao nhiêu khí trong một ngày”.

Câu chuyện về bản ĐTM ở Vedan cho thấy một bức tranh lộn xộn trong cuộc chiến bảo vệ môi trường. Làm sao cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường? Đó là câu hỏi khó. Song, đang xuất hiện “vấn đề” từ góc độ quản lý nhà nước với doanh nghiệp, ít nhất trong câu chuyện bản ĐTM như của Vedan.

TS. Vũ Quang, giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, kể một công trình thủy điện ở miền Nam trình bản ĐTM lên hội đồng thẩm định của tỉnh. Bản báo cáo đó chỉ có cái tên trên cùng là đúng với tên dự án đó, còn lại nội dung bên trong toàn là của thủy điện Sơn La. Ông Quang bình luận: “Hình thức đến mức như thế mà hội đồng vẫn cho qua”. Ông đổ bất cập này cho quá trình phân cấp thẩm định. Ở cấp trung ương, báo cáo ĐTM của dự án thuộc bộ được thẩm định bởi chính lãnh đạo bộ đó. Còn ở cấp địa phương, báo cáo ĐTM của doanh nghiệp được thẩm định bởi chính quyền, những người luôn muốn dự án đó đầu tư vào tỉnh. Ông kết luận: “Thành phần của hội đồng thẩm định rất có vấn đề. Hội đồng thẩm định lập ra để cho qua báo cáo ĐTM, chứ không phải để đánh giá, thẩm định nó. Nó là bệnh chung của các hội đồng”.

Nếu áp dụng những điều khoản hiện nay trong luật và các văn bản, thì các cơ quan chức năng có thể phạt bất kỳ làng nào, hoặc xóa bỏ toàn bộ làng nghề vì tất cả đều ô nhiễm.

Ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam

Nhưng hơn ai hết, những người dân sống ở khu vực ô nhiễm là nạn nhân lớn nhất. TS. Nguyễn Văn Phương, Tổ trưởng bộ môn Luật Môi trường, khoa Pháp luật kinh tế, Đại học Luật Hà Nội, cho rằng hiện nay xuất hiện tình trạng “doanh nghiệp thì cố tình vi phạm, chính quyền thì vô cảm và đoàn thể thì thờ ơ” trước bức xúc của người dân về vấn đề môi trường. Ông nói: “Nếu chỉ sử dụng những công cụ pháp lý đã ban hành thì người dân, cộng đồng dân cư khó có thể thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành. Đã xuất hiện những xung đột giữa người dân và doanh nghiệp. Có những trường hợp, do không còn con đường nào khác, người dân, cộng đồng đã có những hành vi vi phạm pháp luật hiện hành”.

Luật bảo vệ ai?

TS. Phương, người thực hiện báo cáo rà soát về Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 theo yêu cầu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam kết hợp với Văn phòng Chính phủ, cho rằng luật và các văn bản hướng dẫn thi hành đã trở nên không phù hợp với thực tế đời sống xã hội, và chồng chéo, mâu thuẫn với các luật khác. Ông nói: “Luật có không ít những quy định không còn phù hợp, gây khó khăn và lúng túng trong việc áp dụng”.

Ví dụ, theo ông, luật còn thiếu quy chuẩn kỹ thuật môi trường làm căn cứ pháp lý để phân biệt phế liệu được phép nhập khẩu cho sản xuất trong nước, và chất thải không được phép nhập khẩu. Điều này gây ra khó khăn cho người nhập khẩu phế liệu và cho cả cơ quan quản lý kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu trong quá trình thực thi pháp luật.

Điểm bất cập này rõ ràng là nỗi ấm ức lâu năm của Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam Phạm Chí Cường. Ông Cường nhận xét, theo luật, người nhập khẩu chỉ được chở tàu cũ về Việt Nam để tháo dỡ sau khi bỏ đi tất cả những gì nguy hại đến môi trường. Ông nói điều này không đúng với thực tế, vì con tàu cũ đó vẫn phải chạy được về Việt Nam để tháo dỡ. Ông Cường nói: “Người viết quy định này không hiểu gì về việc tháo dỡ tàu cũ cả”. Kết quả là từ khi Luật Môi trường cấm không cho tháo dỡ tàu cũ thì nhiều làng nghề tháo dỡ tàu suốt từ cảng Hải Phòng tới các cảng ở miền Trung, và miền Nam đã bị xóa sổ. Có những doanh nghiệp phải chạy sang Campuchia làm nghề.

Ông nhận xét, nhiều điều khoản luật và văn bản hướng dẫn rất mơ hồ, dẫn đến tình trạng lạm dụng luật. Ông Cường kể, có doanh nghiệp nhập khẩu về 10 container thép phế liệu. Các cơ quan chức năng đến kiểm tra thấy một container có dầu mỡ chảy ra từ đó. Họ lấy bông thấm dầu ở thành thép, rồi lấy kim tiêm hút mỡ từ vòng bi về kiểm tra. Kết quả là đoàn kiểm tra yêu cầu doanh nghiệp tái xuất một container. “Cách họ làm cứ như là kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, chứ không phải với sản phẩm công nghiệp. Doanh nghiệp làm sao mà xuất khẩu được một container?”, ông nói. 

Trong khi đó, ông Vũ Quốc Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cho biết cả nước có gần 2.800 làng nghề, với 11 triệu lao động, và tình hình ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đang rất nghiêm trọng. Ông nói: “Nếu áp dụng những điều khoản hiện nay trong luật và các văn bản, thì các cơ quan chức năng có thể phạt bất kỳ làng nào, hoặc xóa bỏ toàn bộ làng nghề vì tất cả đều ô nhiễm”. Tuy nhiên, góp ý tại hội thảo, Phó giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường Hà Nội Võ Văn Khánh nói rằng, các làng nghề phải áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm giảm bớt ô nhiễm. “Có thực tế là thu nhập của người dân trong làng nghề không đáng bao nhiêu so với chi phí xử lý ô nhiễm mà Nhà nước phải bỏ ra”, ông Khánh nói. Chính quyền Hà Nội đã phải bỏ ra gần 300 tỉ đồng chỉ để xây dựng một nhà máy xử lý nước thải cho ba làng nghề.

Sau hơn năm năm thành lập, Cục Cảnh sát môi trường đã xử phạt gần 20.000 vụ, song cơ quan này chưa truy tố được bất cứ vụ nào do “luật quá mơ hồ”, theo đánh giá của ông Thảo.

Tại hội thảo, TS. Phương đề xuất sáu vấn đề cần sửa đổi trong luật bao gồm quy chuẩn kỹ thuật môi trường, loại phế liệu được phép nhập khẩu, đánh giá tác động môi trường, thẩm quyền quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước, quy chuẩn bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất và quản lý chất thải, và xử lý vi phạm pháp luật. Điều quan trọng nhất, theo TS. Phương, là cần có cơ chế đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình lập, thẩm định và giám sát thực hiện các báo cáo ĐTM.
 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới