(KTSG Online) - Việt Nam chỉ chiếm chưa tới 0,1% thị trường công nghệ sinh học toàn cầu, trong khi các nước trong khu vực tăng tốc mạnh mẽ. Các chuyên gia cho rằng việc thúc đẩy mô hình “hợp tác 3 nhà” (Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp) là chìa khóa để thu hẹp khoảng cách và thúc đẩy thương mại hóa.
- Công nghệ sinh học – trụ cột chiến lược trong hành trình chuyển đổi kép của TPHCM
- Thị trường thử nghiệm lâm sàng: cơ hội vàng chờ gỡ ‘nút thắt’ thủ tục

Ngày 29-11, Đại học Quốc gia TPHCM phối hợp cùng Tập đoàn CT Group tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM, thị trường công nghệ sinh học toàn cầu trong năm nay ước tính khoảng 1,8 ngàn tỉ đô la Mỹ và dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới.
Dự kiến đến năm 2030, con số sẽ tăng gấp đôi, tập trung vào tiến bộ trong nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ chỉnh sửa gene. Cùng với đó là tập trung vào những giải pháp trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp và công nghiệp.
Dù thị trường toàn cầu tăng mạnh nhưng thống kê cho thấy Việt Nam chỉ mới đạt khoảng 1,5 tỉ đô la, nghĩa là chỉ chiếm chưa đến 0,1% thị trường thế giới. Trong khi đó, chỉ riêng khu vực châu Á, thị trường Trung Quốc gấp Việt Nam 100 lần, Nhật Bản khoảng 55 lần, Hàn Quốc là 28 lần và Ấn Độ khoảng 25 lần.
Bà Mai bày tỏ trăn trở với những con số này. Nếu không phải bây giờ, chắc chắn nước ta có thể sẽ lỡ nhịp với sự tăng trưởng thần tốc của lĩnh vực công nghệ sinh học.
Đại học Quốc gia TPHCM có thế mạnh của hệ thống đại học liên ngành, có nguồn lực dồi dào về trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học với hơn 250 chuyên gia, nhà khoa học trong các lĩnh vực này, nhưng việc chuyển giao thành sản phẩm thương mại còn rất hạn chế.
Để kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của quốc gia và quốc tế, bà Mai cho biết Đại học Quốc gia TPHCM đã chủ động xây dựng mô hình “hợp tác 3 nhà” (Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp); cũng như kỳ vọng các bên liên quan sẽ cùng nhau hợp tác, tập trung nguồn lực để sánh kịp với các quốc gia trong khu vực.
Theo các chuyên gia, hiện sự liên kết giữa 3 nhà chưa thật sự hình thành được các chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Hạ tầng và các nền tảng dùng chung như phòng thí nghiệm đạt chuẩn, trung tâm kiểm chuẩn, cơ sở thử nghiệm, hệ thống dữ liệu sinh học… còn phân tán, thiếu tính đồng bộ và chưa đạt chuẩn quốc tế.
Ngoài ra, cơ chế tài chính và nguồn lực đầu tư cho các chương trình dài hạn, có tính rủi ro cao nhưng khả năng sinh lợi lớn trong tương lai vẫn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Kim Chung, Chủ tịch Tập đoàn CT Group, cho biết tập đoàn này xác định công nghệ sinh học là 1 trong 5 trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt liên quan y sinh, nông nghiệp chính xác, năng lượng xanh và vật liệu sinh học.
Theo ông Chung, mô hình hợp tác 3 nhà sẽ là chìa khóa quan trọng đưa công nghệ sinh học Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới. Tập đoàn này cam kết đồng hành lâu dài cùng nhà nước, trường, viện trong thúc đẩy R&D (nghiên cứu và phát triển). Cùng với đó là tham gia vào việc hình thành doanh nghiệp công nghệ sinh học; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển công nghệ bản sao số quốc gia 15 lớp (NDT 15) phục vụ toàn diện cho chuyển đổi số; máy tính lượng tử làm đòn bẩy công nghệ cho công nghệ sinh học Việt Nam…
Để tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy phát triển công nghệ sinh học, các chuyên gia cũng đề xuất cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox); cũng như rút gọn quy trình thẩm định, cấp phép thử nghiệm lâm sàng cho các sản phẩm nghiên cứu trọng điểm.
Các đơn vị liên quan cũng cần xem xét xây dựng cơ chế thí điểm cho thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ trong trường đại học; đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn GMP và các trung tâm kiểm định quốc gia. Việc thí điểm mô hình “hợp tác 3 nhà” cần đi vào thực chất, trong đó doanh nghiệp không chỉ là đơn vị đặt hàng mà còn là nhà đầu tư chiến lược, đồng hành từ khâu R&D đến thương mại hóa.
