Thứ Ba, 27/09/2022, 03:42
24 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Thoáng, nhưng cần quan tâm mặt xã hội

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Thoáng, nhưng cần quan tâm mặt xã hội

Tích tụ ruộng đất thực ra đã âm thầm diễn ra dù có quy định về hạn điền.

(TBKTSG) – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đang soạn thảo nghị định mới, theo đó nông dân, người nước ngoài, doanh nghiệp… được tích tụ ruộng đất để sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là bước đột phá để mở đầu cho những chiến lược phát triển nông nghiệp dài hạn, đúng, căn cơ. Nhưng tích tụ như thế nào để cho nông nghiệp phát triển như mong muốn và giảm thiểu những tác động xấu có thể phát sinh cũng là điều phải tính đến.

Tích tụ và hiệu quả

Ông Thái Văn Hưởng, hiện đang canh tác 12 héc ta đất tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, nói rằng khu đất của ông đã phải chia nhỏ, cho vợ, con… đứng tên thêm để “né” quy định về hạn điền lâu nay. Tích tụ ruộng đất thực ra gần đây đã âm thầm diễn ra, và nhờ người khác đứng tên là một trong những cách để nông dân tránh được mức thuế vượt hạn điền.

“Nếu làm 2-3 công đất, chỉ riêng việc thuê công cắt lúa đã đắt hơn, giá vụ đông xuân này là 200.000 đồng/công. Trong khi nhờ tôi có đất nhiều, người được thuê chấp nhận giá chỉ 170.000 đồng/công vì công việc của họ được kéo dài nhiều ngày, ổn định hơn”, ông Hưởng nói. Theo ông, ngay cả chi phí phân bón, thuốc trừ sâu, nước tưới… nếu làm diện tích đất nhiều cũng rẻ hơn làm manh mún, diện tích hẹp.

Khảo sát tại vụ đông xuân năm 2008 của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ) tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp cho thấy, nếu canh tác trên diện tích dưới 0,5 héc ta, chi phí sản xuất lên tới gần 10,2 triệu đồng/héc ta/vụ, lợi nhuận chỉ hơn 15,7 triệu đồng/héc ta/vụ, trong khi nếu canh tác trên diện tích từ 2 héc ta trở lên chi phí chỉ vào khoảng 9,14 triệu đồng/héc ta, lợi nhuận đạt hơn 20,9 triệu đồng/héc ta.

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa ĐBSCL, phân tích thêm, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là khi đã hội nhập thị trường thế giới, cần có sản phẩm hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng cao, đồng đều, có thương hiệu, giá thành hạ… thì sản xuất nông hộ nhỏ là một trở ngại lớn. Sản xuất manh mún làm cho mối liên kết “bốn nhà” khó thực hiện. Chưa nói đến các yếu tố khác, chỉ nói qua hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông dân.

Giả như trung bình mỗi nông hộ có được 1 héc ta, sản xuất 2 vụ lúa được 10 tấn/năm (đông xuân: 6 tấn; hè thu: 4 tấn), như vậy, nếu doanh nghiệp muốn mua 10.000 tấn lúa đã phải ký với hơn 1.000 nông hộ thì người đâu để triển khai thực hiện ký kết, thu mua và thanh lý hợp đồng? Chưa kể 1.000 hộ này trồng bao nhiêu giống khác nhau, chất lượng cũng không giống nhau! Còn nếu không ký hợp đồng thì nông dân sản xuất ra không biết bán cho ai, giá cả ra sao… dẫn đến trúng mùa mất giá!

“Do vậy, cần có tích tụ ruộng đất để được các vùng chuyên canh với diện tích khá rộng, cần có các trang trại, cần có các nông dân, các hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất… với những cá nhân chuyên nghiệp. Việc này không phải chỉ cho sản xuất lúa gạo mà cho cả các ngành nông nghiệp khác như trái cây, thủy sản, rau màu”, ông khẳng định.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Đệ, Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ), hiện nay bình quân mỗi hộ nông dân (với năm nhân khẩu) ở ĐBSCL chỉ sở hữu 1 héc ta đất. Đây cũng là điều cản trở tiến trình cơ giới hóa sản xuất. Như một máy gặt đập liên hợp có năng suất từ 3-5 héc ta/ngày, liệu nông dân có dám bỏ tiền mua khi họ sở hữu diện tích đất hạn chế và chưa biết cách hợp đồng, nhận khoán… để khai thác hết công suất? Do vậy, tại ĐBSCL hiện chỉ có khoảng 3.500 máy gặt đập xếp dãy và khoảng 2.000 máy gặt đập liên hợp, dẫn đến thất thoát sau thu hoạch lên tới 12-14%, trong khi ở các nước có nền nông nghiệp tiên tiến tỷ lệ này chỉ từ 5-8%.

“Tích lũy ruộng đất, đa dạng quyền sở hữu đất là cần thiết! Đừng lấy lý do sợ người nghèo mất đất để ngăn cản quá trình này. Nghèo có nhiều cách giải quyết, chẳng lẽ cứ để họ “ôm” đất mà vẫn nghèo? Thực tế ở ĐBSCL, nhiều hộ còn đất canh tác nhưng vẫn nghèo”, PGS. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng trường đại Đọc Kinh tế TPHCM, khẳng định.

Được tự do tích tụ đất, chủ đất sẽ trở thành những “doanh nghiệp” nông nghiệp, tự chủ, tự quyết định phương án đầu tư và tìm đầu ra. Giá thành sản phẩm cao do qua nhiều trung gian cũng dần giảm bớt khi chủ đất có thể thành chính “thương lái” khi có số lượng hàng hóa lớn, tự đầu tư phương tiện chuyên chở. Và gánh nặng của ngân sách nhà nước để đầu tư thủy lợi, giao thông nông thôn, tiêu thụ nông sản… cũng giảm dần khi chủ đất sẽ tự đầu tư để bảo đảm quyền lợi của chính họ… “Chắc chắn hiệu quả sản xuất nông nghiệp sẽ tăng theo chiều hướng tốt hơn như các nước Hà Lan, Mỹ, Úc…”, Giáo sư Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, dự đoán.

Nhưng phải tránh tác động xấu

Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, rất đồng tình với chủ trương tích tụ ruộng đất. Tuy nhiên theo ông, điều cần phải áp dụng kèm theo là bỏ hẳn hạn điền và thời hạn sử dụng đất. “Tại sao khi giao đất cho các nhà đầu tư xây dựng dự án sân golf, khu công nghiệp… lại không có hạn điền, còn nông dân lại có? Đó là điều bất công!”, ông nói. Còn thời hạn giao đất nông nghiệp hiện chỉ khoảng 20 năm, theo ông đó là kẽ hở để tham nhũng len vào. “Khi gần hết hạn, cán bộ xuống nói sẽ thu hồi lại, rồi khuyên dân bán lại đất với giá rẻ. Nông dân sợ, bán để rồi mất đất, còn người khác thu lợi. Chuyện đó đã có xảy ra”, ông nói.

Ông Đào Công Tiến kiến nghị, Nhà nước cần tăng cường giám sát, xây dựng chế tài nhằm hạn chế những trường hợp lợi dụng chủ trương để sau đó tự thay đổi mục đích sử dụng đất, làm mất đất nông nghiệp. Và để đảm bảo quyền lợi của nông dân, ông Bảnh cho rằng dự thảo nghị định mới cần làm rõ là nông dân có “quyền sở hữu” (trước giờ là quyền sử dụng) hay không để họ có thể dùng đất tham gia cổ phần trong các doanh nghiệp nông nghiệp. Nếu nông dân được tham gia cổ phần thì sẽ giảm được nỗi lo tái lập tình trạng phát canh thu tô như thời địa chủ trước kia.

“Tích tụ ruộng đất hiển nhiên sẽ dẫn tới sự chênh lệch giàu nghèo lớn, tạo khoảng cách và gây mâu thuẫn trong xã hội giữa cộng đồng nông dân”, ông Đệ nói. Do vậy, theo ông các nhà soạn thảo nghị định cần tính xa hơn, tức phải tìm giải pháp để tăng cường lợi ích công cộng để cả cộng đồng hưởng lợi. “Có thể, Nhà nước thu thuế của những người chủ đất, sau đó đầu tư lại vào trường học, trạm y tế, đường giao thông… để người dân trong vùng đều hưởng lợi”, ông nói.

Và điều mà nhiều người lo nhất chính là số lao động nông nghiệp dôi ra trong quá trình tích tụ ruộng đất. “Quỹ đất không tăng, tức tích tụ sẽ tập trung ruộng đất vào một số người và dôi ra rất nhiều lao động. Nhưng tích tụ sẽ dẫn đến cơ giới hóa, tức giải quyết lao động chân tay không nhiều. Đây là vấn đề xã hội phải giải quyết”, ông Đệ nói.

Ông Bảnh cho rằng, nếu không bố trí được các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn, họ sẽ chuyển về thành phố gây gánh nặng xã hội cho đô thị. Nông dân không còn đất cần phải được đào tạo và giải quyết việc làm phù hợp, cả cho con cái họ? Vì muốn thích nghi với các ngành nghề khác hoặc cuộc sống đô thị phải có thời gian chứ không thể một ngày một bữa. Do vậy, cần có kế hoạch dài hạn, cần quan tâm đến công nghiệp hóa nông thôn, cụ thể hóa Nghị quyết 26 về nông nghiệp – nông dân – nông thôn để nông dân có thể “ly nông bất ly hương”.

Đó cũng là điều mà ông Đệ mong muốn nhằm tránh những xáo trộn về xã hội. Theo ông, Nhà nước cần tìm cách tạo việc làm tại chỗ. “Hồi thập niên 50, 60, Nhật bắt đầu công nghiệp hóa và cũng phát sinh trào lưu nông dân bỏ ruộng đất ra thành phố làm thuê. Ngay sau đó, Nhật đã điều chỉnh chính sách, khuyến khích đưa công nghiệp về nông thôn với những loại hình như công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp phụ trợ… Và họ đã giữ được nông dân lại quê nhà, kéo theo hạ tầng nông thôn phát triển”, ông kể.

“Nhà nước cần có những chính sách bổ sung kèm theo. Cần phải có bước đệm, không thể làm ngay một lúc và thời gian ngắn hay dài tùy thuộc rất lớn vào trình độ quản lý nhà nước”, ông Bửu nói thêm.

HỒ HÙNG

Không nên tích tụ theo kiểu này

Thời gian qua, dù luật pháp chưa công nhận việc tích tụ ruộng đất, nhưng quá trình này đang xảy ra ở nhiều nơi, với mức độ khác nhau, hợp pháp và không hợp pháp. Hợp pháp là việc chuyển hàng ngàn héc ta đất nông nghiệp thành các khu công nghiệp và dịch vụ, nhà nước hoặc doanh nghiệp bồi hoàn cho dân và thu hồi quyền sử dụng ruộng đất của họ.

Không hợp pháp là việc chuyển nhượng không qua chính quyền xác nhận, người nông dân bán đất rồi có thể trở thành người làm thuê trên chính mảnh ruộng của mình trước đây. Chính quyền địa phương biết như vậy là phạm luật nhưng vẫn nương tay! Cho dù hợp pháp hay không thì việc tích tụ ruộng đất này đã làm cho hàng ngàn nông dân không còn đất ở và đất canh tác.

Hiện nay, tích tụ ruộng đất chủ yếu là chuyển thành đất các khu công nghiệp, khu dân cư, vui chơi (sân golf) và dịch vụ. Việc tích tụ ruộng đất để mở rộng sản xuất nông nghiệp rất ít và đôi khi mục tiêu sản xuất nông nghiệp chỉ là hình thức; sau đó bằng cách này hay cách khác, ruộng đất cũng chuyển thành khu dân cư hay dịch vụ!

Trong khi quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, người ta kỳ vọng và giải thích với nông dân là hoạt động công nghiệp và dịch vụ mới này sẽ đem lại công ăn việc làm ổn định cho nhiều người, sẽ tiêu thụ hết nguồn lao động dôi dư ở địa phương đó, kể cả những người nông dân vừa bị mất ruộng đất. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những hoạt động công nghiệp và dịch vụ này chưa thể sử dụng hết nguồn lao động tại địa phương và đặc biệt là những người nông dân bị mất đất chưa sẵn sàng biến thành công nhân. Vì vậy, họ chưa thể có được một đời sống kinh tế thật sự ổn định!

Khi không còn ruộng đất để canh tác thì sức lao động là tài sản chính mà họ dùng để trang trải tất cả các chi phí từ nhà ở, điện nước, lương thực thực phẩm, đi lại hàng ngày, bệnh tật, việc học tập của con cái… Trong bối cảnh các dịch vụ bảo hiểm chưa được triển khai có hiệu quả ở nông thôn thì nếu gặp phải rủi ro như tai nạn lao động, bệnh tật hay thất nghiệp, thì toàn bộ sinh hoạt của họ sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng.

TS. DƯƠNG VĂN NI

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới