Thứ Bảy, 4/12/2021, 13:18
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Thuốc bảo vệ thực vật sinh học: Chật vật tìm chỗ đứng

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Thuốc bảo vệ thực vật sinh học: Chật vật tìm chỗ đứng

Nguyễn Hiếu Doanh

(TBKTSG) – Tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở nước ta đang tăng nhanh. Theo báo Tuổi Trẻ online ngày 11-10-2010, năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở nam giới là 141/100.000 dân, năm 2010 đã lên đến 181/100.000 dân. Ở nữ giới, mức tăng tương ứng là 101-134/100.000 dân. Trong đó những loại ung thư có tỷ lệ mắc mới tăng nhiều là ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư thực quản.

Bệnh ung thư do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng phổ biến nhất những nguy cơ từ nguồn thức ăn và nước uống mà người Việt Nam sử dụng hàng ngày.

Người Việt Nam ăn nhiều rau và đặc biệt ưa thích ăn rau sống. Tuy nhiên, việc sử dụng tràn lan các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học như hiện nay trên đồng ruộng, nguy cơ chúng ta ăn phải các loại rau còn dư lượng thuốc quá nhiều, dẫn đến ngộ độc cấp hay tích lũy dần trong cơ thể sinh ra các bệnh tật sau này, đặc biệt là bệnh ung thư, rất lớn. Vấn đề này nên được cả xã hội và các cấp quản lý xem như là một hồi chuông báo động ở mức cao nhất.

Thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học, giải pháp hay nhưng bị xao nhãng

Thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, được chiết xuất từ cây cỏ trong thiên nhiên, thật ra đã được bà con nông dân sử dụng từ rất lâu đời. Ví dụ như lá sầu đâu (xoan đào), cây thuốc cá, mủ đu đủ, mủ xương rồng, mủ vú sữa… đã được bà con sử dụng từ bao đời nay để diệt sâu bọ, cua, ốc cắn phá cây trồng.

Các nhà khoa học trên thế giới đã đầu tư để chiết xuất ra các hoạt chất, tạo thành một dòng các sản phẩm bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, chủ yếu là trừ sâu, trừ nấm bệnh và kích thích sinh trưởng như khuẩn Bacillus thuringiensis (BT), nấm Trichoderma, hoạt chất Azadirachtin, bột neem (chiết xuất từ cây neem – xoan đào), Karanjin – chiết xuất từ cây hoa đào Ấn Độ, Matrine – chiết xuất từ cây khổ sâm, Saponin – bã trà…

Các dòng sản phẩm này có cơ chế hết sức đa dạng như gây độc hệ thần kinh, gây rối loạn tiêu hóa, hay cản trở quá trình lột xác của sâu bọ… có hiệu quả trên hầu hết các loại sâu bọ trên đồng ruộng.

Với lợi thế không gây ô nhiễm môi trường, không độc cho các động thực vật khác ngoài đối tượng cần phòng trừ, an toàn cho con người và bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất đai không bị thoái hóa và các vi sinh vật có ích không bị tiêu diệt… thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước tiên tiến.

Ngay cả Ấn Độ, rau màu trồng ở khu dân cư (tức đất canh tác cạnh đất ở – giống mảnh vườn ở Việt Nam) cũng bắt buộc sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học. Thuốc hóa học chỉ được dùng ở các nông trại lớn, xa khu dân cư, có điều kiện quản lý tốt về thời gian cách ly trước khi thu hoạch (hệ số PHI – pre-harvest interval), và phần lớn được dùng trên cây bông vải và cây công nghiệp.

Các nước khác như châu Âu hay Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và thậm chí Thái Lan, thuốc bảo vệ thực vật sinh học được sử dụng rất phổ biến rộng rãi trong các loại rau sống ăn trực tiếp vào cơ thể như dưa leo (dưa chuột), xà lách, cải, cà rốt, hành ngò, rau gia vị… vì tính an toàn gần như tuyệt đối của nó.

Tại Việt Nam, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học cũng được khuyến khích phát triển và ứng dụng trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, loại thuốc này ít được sử dụng rộng rãi, trước hết là do giá thành còn tương đối cao so với túi tiền của bà con nông dân. Quan trọng nhất là do tâm lý chuộng “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn” của nông dân khi dùng các loại thuốc hóa học, khiến cho dòng thuốc sinh học này lao đao tìm chỗ đứng trên thị trường.

Cần định hướng cho thị trường

Hiện nay, việc ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học với quy mô lớn tại Việt Nam đều do áp lực từ phía các nhà nhập khẩu nước ngoài trong việc kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản như chè (trà), trái cây, rau sạch, hoa tươi, gạo cao cấp… để xuất khẩu cho ra nước ngoài.

Nông dân không mặn mà với các sản phẩm bảo vệ thực vật sinh học cho nông sản nội địa do khách hàng không khắt khe trong việc kiểm soát dư lượng thuốc. Việc ứng dụng đại trà trên đồng lúa vẫn chưa được chú ý đúng mức do gạo xuất khẩu của Việt Nam hiện cũng chỉ xuất loại có phẩm cấp thấp sang cho các thị trường tương đối dễ tính như Philippines, Indonesia, châu Phi, Cuba…

Tuy nhiên, nếu Việt Nam muốn xuất khẩu gạo của mình đi Nhật Bản, châu Âu hay Hoa Kỳ… thì bài toán về ứng dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón sinh học trên lúa gạo, phải được đặt ra ngay từ bây giờ.

Và nếu muốn hạn chế được hàng vạn tấn hóa chất đổ ra trên cánh đồng Việt Nam, muốn không khí và sông suối của nước ta thật sự trong lành để hít thở và ăn uống, con người khỏe mạnh, sống chan hòa với thiên nhiên, cần có nhiều hơn những định hướng cho nông dân, thị trường và người tiêu dùng đối với nông sản sạch.

Nên chăng, có những quy định bắt buộc của cơ quan quản lý (từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến các cấp thấp hơn như sở, phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, các chi cục bảo vệ thực vật, cục trồng trọt, các trung tâm khuyến nông…) trong việc hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, trước mắt trên các loại rau ăn lá và rau ăn sống, sau đó cho các nông sản khác.

Cần xem xét miễn giảm hay đơn giản hóa việc đăng ký các chủng thuốc bảo vệ thực vật sinh học lưu hành tại Việt Nam (cho phép đặc cách trong đăng ký). Cũng cần sự hỗ trợ của Nhà nước về thuế nhập khẩu, giá bán, quảng bá trên các phương tiện truyền thông… để các sản phẩm này nhanh chóng đến tay người sử dụng.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới