Thứ Sáu, 22/10/2021, 13:42
30 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Tôi mãi mắc nợ nông dân!

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Tôi mãi mắc nợ nông dân!

Trần Sơn Nghĩa ghi

GS.TS. Bùi Chí Bửu.

(TBKTSG) – Đau đáu với nông dân, nặng lòng với nông thôn, hơn 30 năm gắn bó với nông nghiệp, GS.TS.Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam, cho rằng đó là điều may mắn đối với ông. Chính vì “sự may mắn” này mà bản thân ông, dù đã qua tuổi ngũ tuần, vẫn mang một món nợ, “không biết bao giờ trả hết cho nông dân…?”.

Nông dân mình… còn nghèo quá!

Ông Bửu đã thốt lên như vậy, khi nói về nông dân. Hơn 30 năm trước, chàng nghiên cứu sinh Bùi Chí Bửu rời giảng đường với hoài bão mà ông gọi là “lớn lao”, phải làm gì để giúp nông dân làm giàu trên đồng ruộng của mình. Sau 30 năm nhìn lại, ông nói: “Sức của tôi quá nhỏ bé so với ước mơ thời trai trẻ”.

Bộ mặt nông thôn đã dần thay da đổi thịt, nhưng vẫn còn đó những mái nhà tranh vách đất chênh vênh ở những bưng biền các tỉnh Cà Mau, Đồng Tháp, Sóc Trăng… Những mái nhà xiêu vẹo, chơ vơ giữa đồng trống, men theo kênh rạch cả ngày mới tới nơi. Từng kỳ vọng hạt lúa sẽ mang lại sự phồn vinh cho nông dân, nhưng sự kỳ vọng của ông Bửu đã trở thành nỗi buồn riêng của bản thân.

Đã từng nghiên cứu, thử nghiệm nhiều mô hình nâng cao thu nhập cho nông dân, theo ông Bửu, “hạt gạo vẫn là gốc và nền tảng để người nông dân thoát nghèo”. Và để làm điều này, không còn cách nào khác là nâng giá trị hạt gạo ở thị trường xuất khẩu.

Nhưng sau đổi mới, trong suốt 10 năm, sản lượng lúa bình quân của Việt Nam tăng 1 triệu tấn/năm, thu nhập của nông dân tính trên 1 héc ta vẫn dậm chân ở mức 1.100-1.300 đô la Mỹ/héc ta/năm.

Thu nhập trên một nông hộ vẫn dừng ở mức 700 đô la Mỹ/hộ/năm, thu nhập của người trồng lúa cũng chỉ ở mức 470 đô la Mỹ/người/năm. So với mục tiêu thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong năm 2010 là 1.200 đô la Mỹ/người/năm thì mức thu nhập của nông dân trồng lúa còn quá thấp so với mức trung bình của cả nước.

“Đây chính là nỗi buồn lớn nhất của tôi…”, ông Bửu nói. Trước kia, ở đồng bằng sông Cửu Long, diện tích canh tác mỗi hộ đạt khoảng 1 héc ta. Còn hiện nay diện tích canh tác đã giảm xuống 0,7 héc ta/nông hộ. Hiện trong chuỗi giá trị lợi nhuận thu được từ hạt gạo, người nông dân chỉ hưởng được 13%. Tỷ lệ này quá nhỏ so với công sức một nắng hai sương mà họ bỏ ra. Hơn 87% lợi nhuận trong chuỗi giá trị của hạt gạo là qua các tầng lớp trung gian. Dù giá lúa đã tăng trong thời gian qua, hiện trung bình là 4.000 đồng/ki lô gam, so với cách đây năm năm là 3.000 đồng/ki lô gam, nhưng thu nhập của nông dân cũng không tăng kịp giá cả các mặt hàng tiêu dùng trong thời gian qua.

Vì sao?

Nhiều năm qua, ông Bửu luôn trăn trở với câu hỏi: “Việt Nam là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhưng vì sao bà con nông dân vẫn không có được cuộc sống thảnh thơi như nông dân của nước láng giềng Thái Lan?”. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, và các nhà khoa học cũng như cơ quan quản lý đã đưa ra nhiều giải pháp để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam. Nhưng theo ông Bửu, “vấn đề cốt lõi nhất là chúng ta vẫn chưa có một chiến lược dài hơi cho ngành xuất khẩu gạo”.

Ông cho rằng có nhiều cách để nâng thu nhập của người nông dân, nhưng quan trọng nhất vẫn là vai trò điều hành của Nhà nước cần được phát huy. Vai trò đó có ảnh hưởng đến 3,7 triệu héc ta lúa của đồng bằng sông Cửu Long.

Ở Thái Lan, chi phí khuyến nông cho mỗi nông hộ cách đây 10 năm lên đến 40 đô la Mỹ. Trong khi đó tại Việt Nam, hiện chi phí khuyến nông trung bình mỗi năm chỉ gần 9.000 đồng/nông hộ/năm. Chương trình về lúa giống người Thái cũng làm tốt hơn chúng ta. Ở ta, giống tác giả, giống nguyên chủng đều do Chính phủ bỏ tiền ra làm và sản xuất đại trà theo từng mùa vụ cho nông dân. Thái Lan thì đã thiết lập Cục Lúa gạo, chuyên nghiên cứu, hỗ trợ phát triển ngành sản xuất lúa gạo.

“Tôi đã đến trung tâm lúa gạo của Thái Lan ở tỉnh Lop Buri. Tại đây giá gạo được niêm yết và thay đổi mỗi ngày. Nông dân có thể gửi lúa ở kho miễn phí, chờ giá tốt thì bán. Các cơ quan quản lý lúa gạo ở Thái luôn đặt quyền lợi của nông dân lên hàng đầu”, ông nói.

Theo ông, với cách làm này, Thái Lan đã làm tốt khâu bảo quản sau thu hoạch, nên số lượng lúa thu được luôn ở mức cao. Trong khi đó, ở Việt Nam, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch lên đến 14%, ở Thái Lan tỷ lệ này chỉ ở mức 3-5%. Việc trữ lúa, Thái Lan có những hệ thống silo (kho trữ lúa gạo) trữ lúa trong nhiệt độ thích hợp, sấy lúa tự động và hút ẩm. Lúa được lưu trữ trong các silo sẽ được đảm bảo về chất lượng trong thời gian dài.

“Bao năm nay, sau khi thu hoạch, nông dân mình vẫn trữ lúa tại nhà, che mưa bằng vải bạt, kê gạch đá để tránh ẩm ướt, rồi bị thương lái ép giá…”. Theo ông Bửu, do thay đổi nhiệt độ liên tục, nên hạt gạo bị nứt. Vì vậy, tỷ lệ gạo nguyên của Việt Nam luôn ở mức thấp, dưới 40%, thậm chí vụ hè thu, tỷ lệ gạo nguyên của Việt Nam chỉ ở mức 20%, còn lại là gạo gãy. Trong khi tỷ lệ gạo nguyên của Thái Lan lên đến 60%. Tất cả những điều này cho thấy công tác bảo quản sau thu hoạch của Việt Nam còn rất yếu kém.

Trăn trở với nông thôn

Mô hình nào để phát triển nông thôn bền vững? Câu hỏi này luôn ám ảnh ông Bửu trong suốt thời gian công tác ở Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long. “Trong bối cảnh hiện tại, để đại bộ phận nông dân thoát nghèo, việc phát triển cây lúa trong những năm tới vẫn rất quan trọng”. Ông dẫn chứng: ở Sóc Trăng và Bạc Liêu đã ứng dụng thành công mô hình trồng lúa kết hợp với nuôi tôm, không gây ô nhiễm môi trường, góp phần nâng mức thu nhập của nông dân.

Đây là mô hình nuôi tôm sú luân canh, thu hoạch xong một vụ tôm, nông dân lại trồng lúa. Với mô hình này, cây lúa sẽ hút hết thức ăn dư thừa của tôm. Còn khi trồng lúa thì không phun thuốc, không bón nhiều phân hóa học để giữ sạch hồ nuôi tôm. Lúa sạch đặc sản trồng ở vuông tôm sẽ bán được giá cao hơn so với lúa thường 2-3 lần.

Dù mô hình trên bước đầu đã thành công, nhưng điều đáng lo, theo ông Bửu, là “hiện chỉ có 10% nông dân giỏi tính toán, sản xuất làm ăn”. Còn đa phần nông dân vẫn theo tập quán cũ, cung cách cũ. Nông dân làm theo tâm lý đám đông, “thấy người ta làm được cũng nhảy vô làm”, sản phẩm nông nghiệp làm ra nhiều, không được kiểm soát. Điệp khúc được mùa rớt giá do cung vượt cầu lại diễn ra, nông dân nghèo vẫn hoàn nghèo.

“Điều buồn nhất là những nông dân giỏi giang, chí thú làm ăn cũng thất bại vì tâm lý bắt chước làm theo của những người khác”. Ông Bửu nhấn mạnh, để giải quyết vấn đề này thì Nhà nước, các cơ quan quản lý cần phát huy vai trò định hướng và tổ chức lại sản xuất cho nông dân. “Tôi từng là nông dân, lớn lên đi học, ra trường cũng về làm việc với nông dân”, ông nói. Vì thế, hơn ai hết, ông hiểu nỗi khát khao “thoát nghèo” của nông dân. Nhưng nông dân không thể tự làm…

Một vấn đề đáng báo động nữa ở nông thôn là tình trạng lao động trong nông nghiệp đang ngày càng già đi. Người trẻ không thiết tha với ruộng đồng, đó là chưa kể cơn lốc công nghiệp hóa nông thôn cũng đang làm diện tích đất sản xuất lúa thu hẹp dần.

Trăn trở nhiều, âu lo cũng không ít, ngoài những công trình nghiên cứu ứng dụng thiết thực cho ngành nông nghiệp, vị Viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam đang dày công hướng dẫn cho nông dân thực hiện khẩu hiệu thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, với bốn chữ “tâm, trí, tay, thân”.

Ông Bửu giải thích: Tâm của nông dân phải sáng, sản xuất ra những sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Trí của người nông dân phải tinh, nắm bắt tốt những tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng vào sản suất để tăng năng suất, nhạy bén với thay đổi của thị trường… Tay của người nông dân phải khéo, luôn thực hành tốt các kỹ thuật nuôi trồng. Và cuối cùng, mỗi nông dân phải quan tâm đến thân thể, chăm lo sức khỏe của mình, của cộng đồng để làm việc tốt hơn.

Đây cũng chính là mục tiêu và món nợ mà vị “giáo sư lúa” đeo đuổi để thực hiện và trả nợ cho nông dân, nông thôn.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới