Thứ Sáu, 3/12/2021, 13:59
30 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Triển vọng FTA Việt Nam – EU: Cơ hội và thách thức

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Triển vọng FTA Việt Nam – EU: Cơ hội và thách thức

Sơn Nghĩa

Triển vọng FTA Việt Nam - EU: Cơ hội và thách thức
Thủy sản là một trong những mặt hàng mà Việt Nam còn nhiều tiềm năng tăng xuất khẩu vào thị trường EU. Ảnh: Lê Hoàng Vũ.

(TBKTSG) – Có đến 97% ý kiến của doanh nghiệp cho rằng Việt Nam nên sớm đàm phán Hiệp định thương mại song phương (FTA) với thị trường chung châu Âu (EU). Đây là kết quả cuộc khảo sát ý kiến của các chuyên gia, hiệp hội, doanh nghiệp mà Ủy ban Tư vấn chính sách thương mại quốc tế thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố.

Nhiều cơ hội…

Nếu FTA giữa Việt Nam và EU được ký kết, với mức cắt giảm thuế về 0% với ít nhất 90% số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này, sẽ là chìa khóa thúc đẩy mạnh mẽ dòng hàng hóa từ Việt Nam sang thị trường lớn của 27 nước thành viên EU với 500 triệu dân.

EU hiện đã là thị trường tương đối mở, với các mức thuế suất thấp đối với các sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài, mức thuế suất trung bình mà hàng hóa Việt Nam đang phải chịu tại EU là 4,1%. Nhưng thực tế, theo tỷ trọng thương mại giữa các nhóm sản phẩm, Việt Nam đang phải chịu mức thuế trung bình vào EU lên tới 7%. Theo Ủy ban Tư vấn chính sách thương mại quốc tế, dù áp dụng mức thuế suất rất thấp với đa số dòng thuế, EU đang duy trì mức thuế tương đối cao đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Đơn cử, mức thuế suất trung bình áp dụng cho nhóm hàng dệt may là 11,7%; thủy sản 10,8% và giày dép 12,4%. Đây chính là một cản trở đáng kể đối với sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam ở thị trường này, đặc biệt trong hoàn cảnh EU đã và đang ký FTA với nhiều đối thủ cạnh tranh của Việt Nam. Một FTA với EU sẽ là công cụ tốt để xử lý rào cản này.

Cụ thể, theo GS. Claudio Dordi, Trưởng dự án Hỗ trợ thương mại đa biên của EU (Mutrap), nếu FTA giữa hai bên được ký kết, xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng trung bình 4% năm, mức cao nhất 6% năm đối với các ngành mà hiện nay Việt Nam đang phải chịu mức thuế nhập khẩu cao vào EU và trung bình 3% đối với các ngành khác. Tác động của FTA Việt Nam – EU với hai ngành xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường này cho thấy một bức tranh tương lai khá sáng sủa. Đối với ngành giày dép, mức thuế suất bình quân gia quyền EU áp dụng đối với giày dép nhập khẩu từ Việt Nam hiện là 12,4%. FTA với EU sẽ giúp xuất khẩu các loại giày dép hưởng mức thuế 0%, do đó kim ngạch dự kiến sẽ tăng từ 7-21%/năm.

Trong khi đó, FTA với EU cũng sẽ làm giảm mức thuế quan 12% mà hiện EU đang áp dụng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam xuống còn 0%. Điều này sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho nhóm năm sản phẩm dệt may xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam với mức tăng trưởng về kim ngạch trung bình trên 20%/năm.

Ngoài ra, EU có những chính sách thông thoáng hơn một số đối tác FTA khác có những đòi hỏi khắt khe về quy tắc xuất xứ (hàm lượng nội địa của hàng hóa) khiến những lợi ích từ việc cắt giảm thuế không có ảnh hưởng trong thực tế. Hàng hóa Việt Nam chủ yếu sử dụng nguyên liệu nhập khẩu và không đáp ứng được quy tắc xuất xứ chặt chẽ để có thể hưởng ưu đãi thuế theo FTA của các đối tác này. Riêng EU có xu hướng chấp nhận các quy tắc xuất xứ mềm dẻo, áp dụng riêng cho mỗi bên đối tác. Trong một cuộc hội thảo FTA giữa EU và Việt Nam được tổ chức gần đây, ông Lê Văn Đạo, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cũng cho rằng đối với ngành dệt may, lợi ích và tăng trưởng xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào quy tắc xuất xứ FTA đó. Thực tế với FTA giữa Việt Nam với Nhật Bản, hoặc Hàn Quốc, ngành may không thể tăng trưởng xuất khẩu vào các thị trường này do quy tắc xuất xứ quá khắt khe.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng, trong lĩnh vực nông nghiệp, EU vẫn duy trì mức thuế cao. Điều này sẽ là rào cản lớn để những mặt hàng nông sản có thế mạnh của Việt Nam tiếp cận thị trường này. Tuy vậy, theo nhiều chuyên gia, Việt Nam có thế mạnh về nông sản nhiệt đới, lại không phải là mặt hàng được bảo hộ lớn của EU. Vì vậy, khi thuế suất giảm, Việt Nam vẫn có cơ hội tăng kim ngạch ở thị trường này.

Còn nhiều quan ngại

Dù phần lớn doanh nghiệp ủng hộ Việt Nam ký kết FTA với EU, cũng có những ý kiến cho rằng, thực tế việc ký kết FTA với EU chỉ có lợi cho ba ngành: dệt may, giày dép và nông sản. Sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam tại thị trường nội địa còn yếu kém. Doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ năng lực để cạnh tranh và vì thế có thể bị ảnh hưởng từ FTA này ở hướng chấp nhận hàng nhập khẩu hay dịch vụ từ EU. Với phạm vi điều chỉnh quá tham vọng, bao trùm nhiều vấn đề, FTA Việt Nam – EU được suy đoán sẽ có mức độ tự do hóa thương mại cao hơn. Tổng số dòng thuế phải cắt giảm cao, mức độ cắt giảm mạnh và Việt Nam phải mở cửa nhiều hơn. Điều này có thể gây thêm những khó khăn mới cho các doanh nghiệp ở thị trường nội địa.

Cụ thể, dịch vụ sẽ là lĩnh vực nhạy cảm và sẽ chịu nhiều sức ép cạnh tranh, đây lại là lĩnh vực EU có thế mạnh. Tuy nhiên, trong WTO, Việt Nam đã cam kết 110/155 phân ngành, trong đó nhiều lĩnh vực đã mở cửa khá rộng (chấp nhận cho doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh và công ty 100% vốn tại Việt Nam) như các dịch vụ tài chính, phân phối, các dịch vụ nghề nghiệp. Theo ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, đối với các dịch vụ chưa cam kết trong WTO vấn đề đặt ra là EU yêu cầu những gì và Việt Nam chấp nhận ở mức nào.

Thực tế, các lĩnh vực dịch vụ được đề xuất mở cửa ngay bao gồm cả những lĩnh vực mà Việt Nam không mạnh (như dịch vụ cảng biển, hàng hải, logistics) hoặc còn bị xem là nhạy cảm (như truyền thông, thông tin, giáo dục…). Những lĩnh vực được các ý kiến khảo sát đề xuất mở cửa thận trọng (có lộ trình) bao gồm nông nghiệp, các sản phẩm mà Việt Nam có tiềm lực cạnh tranh mạnh hay những lĩnh vực dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp điều hành tiền tệ và kinh tế vĩ mô như tài chính.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, Nhà nước cần đánh giá đầy đủ các tác động tích cực và tiêu cực của các FTA đã ký kết trước đây để rút ra bài học tốt cho đàm phán FTA Việt Nam – EU. Trong quá trình đàm phán, các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề cần được tham gia tích cực hơn.

Việc xác định phương án đàm phán cần thực hiện trên cơ sở lợi ích quốc gia. Cần đặc biệt tính đến lợi ích của các nhóm yếu thế như nông dân và người lao động. Trong quá trình đàm phán, Nhà nước cũng cần chú ý đến các rào cản phi thuế quan thường gặp đối với hàng Việt Nam xuất khẩu sang EU. Bên cạnh đó, cần xem xét sự khác biệt giữa trình độ, tốc độ phát triển của Việt Nam và EU để tìm kiếm những nhượng bộ thích hợp và vấn đề tồn tại của các doanh nghiệp nhỏ trong nước cũng cần được quan tâm.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Có thể bạn quan tâm

Tin mới