Thứ Ba, 23/07/2024
35.6 C
Ho Chi Minh City

Từ tay trắng đến… trắng tay

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Từ tay trắng đến… trắng tay

Thành Trung

(TBKTSG) – Mất ruộng và không có kỹ năng nghề, không ít thanh niên nông thôn xem việc đi lao động ở nước ngoài như phao cứu sinh. Nhưng, không ít người phải trở về với hai bàn tay trắng, tiền mất tật mang. Dưới đây là câu chuyện của một nữ lao động xuất khẩu trở về từ Malaysia, được ghi lại trong một báo cáo của Unicef mới được công bố năm 2009.

Tay trắng ra đi

Cô gái còn khá trẻ. Sau khi ly dị chồng, N (xin giấu tên thật của nhân vật) mang con trai nhỏ về nhà cha mẹ đẻ sống. Như nhiều thanh niên nông thôn khác không có ruộng và không có việc làm, cô chọn con đường đi xuất khẩu lao động theo chính sách của nhà nước để kiếm tiền. Đích đến là Malaysia.

Cô phải vay mượn hơn 35 triệu đồng lo chuyến đi, trong đó 20 triệu vay nhà nước với lãi suất ưu đãi, số còn lại vay nặng lãi để trang trải các khoản chi phí, bao gồm phí nộp cho công ty môi giới và các khoản không chính thức khác.

Cô gái quê ở một tỉnh miền Tây Nam bộ tính toán sau ba năm đi làm theo hợp đồng có thể trả hết nợ và để dành ít vốn buôn bán và nuôi con, đỡ đần cha mẹ già.

Trong khoảng sáu tháng đầu, nhờ có công việc làm tương đối ổn định, cô dành dụm được một ít gửi về nhà trả nợ. Tuy nhiên, từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu, mọi việc trở nên tồi tệ với cô gái 24 tuổi.

Trong báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (Unicef), Viện Xã hội học và Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch về tác động của suy thoái kinh tế tới người lao động di cư quốc tế và gia đình, công bố năm 2009, có trích dẫn lời N: “… Việc làm ít dần, lương thấp chẳng đủ ăn, giá cả lại cao… cứ thứ gì rẻ nhất là em mua để ăn, nhiều khi nhịn ăn luôn… đói quá nên sức khỏe yếu, ai cũng gầy xơ gầy xác… ốm đau cũng không có tiền thuốc men chạy chữa”.

Theo lời N, do không có việc làm, đói quá, nhiều lao động Việt Nam bỏ ra ngoài làm thêm bất hợp pháp để sống qua ngày. Có người không may bị cảnh sát sở tại bắt được, có người bị hành hung, tống giam, bị bỏ đói. Ai không có tiền chuộc không được ra. N kể, nhiều nữ công nhân túng bấn và đói quá, đành chọn cách cặp kè với ông chủ (nhà máy), hoặc làm gái để kiếm tiền. N thì may hơn, cô được gia đình gửi mì tôm, cá khô mặn sang ăn dần nên chưa đến mức như người khác.

Báo cáo trên ghi nhận những tác động ban đầu của cuộc khủng hoảng kinh tế đến sinh kế của những người Việt Nam đi xuất khẩu lao động cũng như gia đình họ ở nhà trong giai đoạn từ tháng 6-2008 đến 6-2009 – thời điểm cuộc khủng hoảng lan rộng. Theo Unicef, báo cáo chủ yếu dựa vào các cuộc phỏng vấn và thảo luận nhóm tập trung với những người đi lao động nước ngoài đã trở về từ các nơi như: Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, các nước Trung Đông, Đông Âu, Nga, Đức, Cộng hòa Séc.

Bên cạnh những ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoảng khiến cho nhiều công ty, nhà máy phải cắt, giảm việc làm, người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập, báo cáo cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể về mức độ tác động giữa các nhóm lao động di cư khác nhau.

Theo báo cáo, người lao động Việt Nam ở nước ngoài làm việc trong khu vực không chính thức, trong các ngành công nghiệp (nhất là ngành phục vụ xuất khẩu) và ở những nước có hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển, chịu tác động nặng hơn. Trong khi đó, người lao động ở Nhật Bản và Hàn Quốc được bảo vệ tốt hơn về mặt pháp lý và có nhiều cơ hội được hưởng lợi từ các quy định về an sinh xã hội ở nước sở tại hơn.

Như trường hợp của N. Vẫn theo lời cô, rất nhiều bất ổn xã hội đã xảy ra đối với công nhân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ. Bị cướp, trấn lột, bị hành hung, thậm chí làm nhục là những mối nguy hiểm thường xuyên rình rập nhưng người lao động không được chính quyền sở tại và công ty xuất khẩu lao động của Việt Nam hỗ trợ và bảo vệ.

N kể, có lần cô đi xe buýt và chứng kiến cảnh va chạm lộn xộn giữa công nhân Việt Nam và người bản xứ. Không phân biệt ai có tội, ai không, cảnh sát bắt tất cả những người Việt Nam trên xe về đồn. Không may, bữa đó cô quên mang giấy tờ nên cảnh sát nghi là “đi làm gái” và không cho về.

Không có tiền bảo lãnh, cô bị nhốt mấy ngày trong đồn cảnh sát. Cô kể: “Em phải khóc lóc, quỳ lạy một ông Hoa kiều, ông ấy thương tình cho em vay tiền đóng cho cảnh sát rồi mới được tha cho về… Em vừa tức, vừa nhục chỉ biết khóc thôi”.

Trắng tay trở về

Kết quả khảo sát mà ba cơ quan trên thu được trong quá trình nghiên cứu là đáng quan tâm. Ví dụ, tại các nơi như Malaysia, Đài Loan, các nước Trung Đông và Đông Âu, khoảng 90% số người đi lao động xuất khẩu đều bị cắt, giảm việc làm từ tháng 8-2008 đến thời điểm báo cáo này được công bố (6-2009). Không ít người trắng tay do công ty bị đóng cửa hoặc phá sản. Ở các nước đó, công nhân Việt Nam không được hưởng bất cứ một hình thức hỗ trợ xã hội nào do mất việc, giảm giờ làm khi khủng hoảng nổ ra, theo bản báo cáo.

Ghi nhận từ các cuộc phỏng vấn cho thấy, người lao động chỉ được hưởng lương theo số giờ làm việc, nếu không có việc làm nghĩa là không có lương, mất thu nhập. Chưa hết bàng hoàng, N nhớ lại khi đó công ty Malaysia nơi cô làm đứng trước bờ vực phá sản và cũng không thể lo cho công nhân về nước. Công ty “môi giới” phía Việt Nam cũng biến mất nên người lao động buộc phải tự xoay xở tìm đường về. Gia đình nghèo của N ở quê nhà phải chạy vạy vay nợ hơn 7 triệu đồng nộp cho chủ lao động để cô được trở về. Khi được hỏi, sau chuyến đi bão táp ấy, cô học được gì, N nói: “Biết thế nào là đói, thế nào là nhục”.

Một đại diện của Unicef tham gia nhóm nghiên cứu cho hay là người đi lao động xuất khẩu làm việc trong các ngành công nghiệp (điện tử, chế tạo ô tô, sản xuất hàng tiêu dùng…) chịu ảnh hưởng nặng nề hơn các ngành dịch vụ, nông nghiệp.

Tương tự, cuộc khủng hoảng cũng ảnh hưởng rất nặng đến những người đi lao động xuất khẩu lần đầu, vì chỉ trong thời gian ngắn mới đi họ đã gặp khủng hoảng. Cụ thể, theo nghiên cứu, trong số 210 người đi lao động nước ngoài từ năm 2007 có vay nợ lúc đi, chỉ có 21,9% đã trả hết nợ, (trong khi số đi lao động năm 2008 chỉ có 12,6% đã trả hết nợ). Còn lại trên 78% chưa trả xong, trong đó 25,2% chưa trả được một đồng nào.

Nhóm đi lao động năm 2008 có 39,6% chưa trả được phần nào số tiền vay nợ. Số này, dù đã hết hợp đồng hay về nước trước thời hạn, thì số nợ vay lúc ra đi đều trở thành gánh nặng nợ nần làm cho cuộc sống của họ và gia đình vô cùng khó khăn, bất trắc.

Theo kiến nghị của Unicef, việc quản lý lao động xuất khẩu nên được chú ý hơn. Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cần rà soát lại quy trình và giám sát mọi khía cạnh của việc xuất khẩu lao động, gồm các điều khoản hợp đồng, địa vị pháp lý của các công ty xuất khẩu lao động (trung gian) và các dịch vụ bảo vệ người lao động Việt Nam ở những nước tiếp nhận lao động.

Ngoài ra, rất cần có những chính sách căn cơ, dài hạn hỗ trợ gia đình họ đối phó với các rủi ro, như các chương trình giúp người lao động trở về tìm việc làm mới, hỗ trợ đặc biệt giúp họ trả nợ với lãi suất thấp, chăm sóc sức khỏe, ổn định cuộc sống.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới