Thứ Ba, 5/07/2022, 03:42
27 C
Ho Chi Minh City

Đặt báo in

Thông tin quảng cáo

Thông tin quảng cáo

Vững bước vượt qua ‘bẫy kinh tế’ Covid-19

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Vững bước vượt qua ‘bẫy kinh tế’ Covid-19

Hoàng Thắng

(TBKTSG Online) – Kinh tế Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực trong điều kiện hết sức khó khăn của năm 2020, nhưng vẫn còn quá sớm để cho rằng nước ta đã thoát khỏi “bẫy kinh tế” của dịch Covid-19, theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng.

Vững bước vượt qua ‘bẫy kinh tế’ Covid-19
Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng. Ảnh: D.T

Chia sẻ với TBKTSG Online nhân dịp xuân Tân Sửu, ông Đinh Tiến Dũng – Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Tài chính – đã đề xuất một số giải pháp nhăm giảm tác động của dịch Covid-19 với doanh nghiệp và người dân, đồng thời hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế trong những năm tới. 

Ba thách thức với nền tài chính quốc gia

– TBKTSG Online: Thưa Bộ trưởng, ông từng nói trên diễn đàn Quốc hội vào đầu năm 2016 về việc điều hành ngân sách nhà nước "như kiểu đi trên dây” nhằm thể hiện sự bất định với ngân sách của nhiệm kỳ mới. Vậy lần này việc điều hành ngân sách nhà nước sẽ đối mặt với những yếu tố bất định nào trước tác động từ dịch Covid-19?

– Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng: Đúng là như vậy. Khi trình bày trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo đánh giá bổ sung tình hình thực hiện ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2015 và tờ trình của Chính phủ về kế hoạch tài chính năm năm, giai đoạn 2016-2020, vào tháng 3-2016, tôi đã thể hiện rõ quan điểm của mình về thực trạng tình hình tài chính – NSNN của đất nước tại thời điểm đó, cụ thể: “Mấy năm nay việc điều hành ngân sách như kiểu đi trên dây. Năm 2016 này tiếp tục đi trên dây. Cứ tình hình này kéo sang năm 2017, dây mà đứt thì chúng ta chết”.

Nhìn lại thời gian đó, có rất nhiều khó khăn, thách thức chồng chất, bủa vây công tác điều hành tài chính – NSNN. Liên tục từ năm 2013 đến 2015, giá dầu thô giảm mạnh, kéo theo sự hụt giảm về nguồn thu ngân sách khoảng 20.000-30.000 tỉ đồng mỗi năm.

Còn tốc độ tăng nợ công gấp khoảng ba lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Theo đó, dư nợ công là 62,2% GDP tính đến cuối năm 2015, tiệm cận trần nợ Quốc hội cho phép là 65% GDP. Thậm chí nợ Chính phủ đã lên tới 50,3% GDP, vượt 0,3% so với trần Quốc hội cho phép.

Cân đối NSNN khó khăn khi tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi NSNN giảm sút từ mức 28,8% giai đoạn 2006 – 2010 xuống còn 23,6% giai đoạn 2011 – 2015.

Đáng chú ý, giá dầu thô dự toán là 60 đô la Mỹ một thùng vào năm 2016, nhưng thực tế chỉ đạt 45  đô la một thùng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của ngân sách trung ương (NSTƯ). Bên cạnh đó là nhiều yếu tố bất lợi khác, ảnh hưởng không thuận đến hoạt động NSNN, nhất là thu NSTƯ, gồm tăng trưởng kinh tế thấp hơn dự kiến, thiên tai, lũ lụt, ô nhiễm môi trường biển ở một số tỉnh miền Trung.

Bối cảnh đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ và kiên quyết để có thể tái cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.

Từ năm 2016 đến nay, tình hình đã rất khác, khi nền tảng và tiềm lực tài chính của nước ta ngày càng tốt hơn, dư địa tài khóa được mở rộng đem lại khả năng chống chịu cao hơn. Kết thúc năm 2020, các mục tiêu, nhiệm vụ tài chính – NSNN trong giai đoạn 2016 – 2020 theo các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội đã được hoàn thành thắng lợi và khá toàn diện.

Về thu, tổng thu NSNN đạt 6,89 triệu tỉ đồng trong giai đoạn 2016 – 2020, vượt 0,4% so với kế hoạch. Đây là mức rất tích cực trong điều kiện thu NSNN năm 2020 khó khăn do tăng trưởng kinh tế thấp hơn rất nhiều so dự kiến.

Cơ cấu thu NSNN bền vững hơn khi tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng từ mức 68% của bình quân giai đoạn 2011-2015 lên 85,5% trong năm 2020, trong khi kế hoạch là 84-85%. Tỷ trọng thu dầu thô và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm từ mức 30% của bình quân giai đoạn 2011-2015 xuống còn khoảng 14,2% trong năm 2020.

Về chi, tổng chi NSNN ước đạt khoảng 7,66 triệu tỉ đồng giai đoạn 2016 – 2020. Trong đó tỷ trọng chi NSNN bình quân khoảng 28% GDP, trong khi giai đoạn 2011-2015 là 29,5% GDP.

Cơ cấu chi tiếp tục chuyển dịch tích cực khi tỷ trọng chi đầu tư phát triển năm 2020 đạt trên 29%, trong khi mục tiêu là 25-26%. Còn chi thường xuyên khoảng 63,1% tổng chi NSNN, trong khi mục tiêu là dưới 64%. Kết quả, bội chi NSNN bình quân năm năm đạt khoảng 3,6% GDP, đảm bảo mục tiêu không vượt quá 3,9% GDP.

Đến cuối năm 2020, dư nợ công khoảng 55,8% GDP, nợ Chính phủ khoảng 49,6% GDP, trong phạm vi giới hạn cho phép.

Nói như vậy để thấy rằng bối cảnh hiện tại đã có sự thay đổi lớn so với năm năm trước, dù hiện chúng ta đang mặt với những yếu tố bất định và rủi ro từ đại dịch Covid-19. Đồng thời, chúng ta cũng đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện “mục tiêu kép” – vừa phòng, chống dịch bệnh, vừa phục hồi và phát triển các hoạt động kinh tế – xã hội, đảm bảo đời sống nhân dân thích ứng với trạng thái bình thường mới.

Vì vậy chúng ta có thể tự tin, chủ động ứng phó với tác động bất lợi của dịch bệnh, song cũng không được chủ quan. Với các yếu tố bất định và rủi ro của đại dịch Covid-19, tôi cho rằng có ba vấn đề chính.

"Phải mất 2-3 năm thì nguồn thu NSNN mới có thể tăng trưởng cùng nhịp với tăng trưởng kinh tế, do có độ trễ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng nguồn thu NSNN", Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng chia sẻ.

Thứ nhất, trên bình diện toàn cầu, dự báo kinh tế thế giới đã trải qua giai đoạn tồi tệ nhất do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, bước đầu đã có sự phục hồi. Nhưng tốc độ phục hồi giữa các quốc gia là rất khác nhau do phụ thuộc vào diễn biến của đại dịch và khả năng cung cấp vắc-xin phòng dịch trên toàn thế giới.

Theo đó, hoạt động kinh tế của một số quốc gia đã cơ bản trở lại bình thường nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh. Trong khi ở Mỹ và một số quốc gia châu Âu, dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến khả năng phục hồi và niềm tin của dân chúng.

Ngoài ra, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt, nguy cơ bất ổn tài chính toàn cầu gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến các động lực tăng trưởng.

Trước thực tế đó, nhiều quốc gia tiếp tục ban hành các chính sách hỗ trợ và kích thích tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội với giá trị rất lớn, nhằm bảo vệ việc làm và bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người lao động. Có một số quốc gia tận dụng cơ hội để thu hút đầu tư, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển dịch sang nền kinh tế số.

Thứ hai, kinh tế Việt Nam đã từng bước phục hồi khả quan và đạt nhiều kết quả hết sức tích cực trong điều kiện hết sức khó khăn của năm 2020, đóng góp vào thành công chung của cả nhiệm kỳ 2016-2020, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, nâng cao uy tín và vị thế của đất nước trên trường quốc tế và khu vực.

Nhưng còn quá sớm để cho rằng chúng ta đã thoát ra khỏi “bẫy kinh tế” của dịch Covid-19. Theo đó, vẫn còn những yếu kém nội tại của nền kinh tế chưa được xử lý dứt điểm, gồm: sự phục hồi diễn ra không đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế khi một số ngành nghề vẫn còn rất khó khăn như du lịch, hàng không, khách sạn; năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế; tiềm lực tài chính của cả khu vực nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân đều đã giảm đáng kể so với thời điểm trước khi xảy ra đại dịch Covid-19; những rủi ro và bất định của kinh tế thế giới sẽ tiếp tục hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài, ngăn cản hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch quốc tế. 

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, diễn biến bất thường thời tiết tiềm ẩn nguy cơ tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế – xã hội và việc thực hiện các nhiệm vụ tài chính – NSNN.

Thứ ba, phải mất 2-3 năm thì nguồn thu NSNN mới có thể tăng trưởng cùng nhịp với tăng trưởng kinh tế, do có độ trễ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng nguồn thu NSNN. Đây là dự báo được đưa ra trong điều kiện khả quan nhất khi vác-xin phòng chống Covid-19 phát huy tác dụng, còn kinh tế thế giới phục hồi theo hình chữ V – tạo ảnh hưởng tích cực đến kinh tế Việt Nam.

Bên cạnh đó, để đảm bảo tiếp tục thực hiện linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” – vừa phòng, chống đại dịch Covid-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới, ngành Tài chính phải nghiên cứu, giải đồng thời hai bài toán ngược chiều nhau.

Đó là tiếp tục áp dụng các giải pháp ưu đãi – giảm, giãn về thuế, phí và lệ phí để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân ứng phó với đại dịch Covid-19, khôi phục và phát triển sản xuất – kinh doanh. Đồng thời đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu NSNN hàng năm được Quốc hội quyết định. 

Nhưng vẫn cần có thêm nguồn lực cho đầu tư công để làm động lực phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh đó, vẫn phải kiểm soát chặt chẽ bội chi và nợ công trong phạm vi Quốc hội cho phép, đảm bảo an toàn, an ninh tài chính; phấn đấu giảm bội chi NSNN khi có điều kiện để tăng dư địa tài khóa, tăng sức chống chịu của nền kinh tế.

Đó thực sự là những thách thức, khó khăn phải vượt qua trong thời gian tới.

Tháo gỡ những nút thắt 

– Việc giải ngân vốn đầu tư công dù đạt được nhiều bước tiến nhưng chưa đạt mục tiêu đề ra từ đầu năm 2020, vậy đâu là yếu tố cần cải thiện để đầu tư công thực sự trở thành trụ cột ‘kéo’ tăng trưởng kinh tế?

– Đầu tư công có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương cũng như của cả nước. Đẩy mạnh việc thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ quan trọng của các Bộ, ngành, địa phương nhằm triển khai Nghị quyết số 01 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2020, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang tiếp tục ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội nước ta và các nước trên thế giới.

Để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, Chính phủ và Thủ tướng đã quyết liệt trong việc chỉ đạo, điều hành các Bộ, ngành, địa phương. Đồng thời triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, gồm: ban hành các Nghị quyết của Chính phủ, văn bản chỉ đạo của Thủ tướng, định kỳ tổ chức Hội nghị trực tuyến với các Bộ, ngành địa phương để đôn đốc đẩy mạnh việc giải ngân vốn đầu tư công, thành lập 7 đoàn kiểm tra do Lãnh đạo Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ trưởng Bộ Tài chính làm trưởng đoàn trực tiếp làm việc với các Bộ, ngành địa phương để trực tiếp nắm bắt, đôn đốc, xử lý các vướng mắc thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công.

Về phía Bộ Tài chính, với vai trò là cơ quan tham mưu cho Chính phủ và Thủ tướng về quản lý, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công, chúng tôi đã chủ động thực hiện nhiều giải pháp để góp phần thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, gồm: chủ động rà soát sửa đổi cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư để phù hợp với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, đơn giản hóa thủ tục kiểm soát chi với nguyên tắc thanh toán trước, kiểm soát sau; rút ngắn thời gian kiểm soát thanh toán từ 7 ngày xuống còn 1-3 ngày làm việc, rút ngắn thời gian rút vốn nước ngoài chỉ còn 1 ngày, tăng cường thực hiện kiểm soát chi, rút vốn và giải ngân qua hệ thống công nghệ thông tin.

Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng triển khai một số giải pháp, gồm: ban hành các văn bản gửi các Bộ, ngành, địa phương để triển khai việc phân bổ kế hoạch vốn đầu tư cho các dự án; nhập hết kế hoạch vốn đầu tư lên hệ thống Tabmis để làm cơ sở kiểm soát, thanh toán vốn; hướng dẫn công tác kéo dài thời gian thực hiện và thanh toán kế hoạch vốn đầu tư bổ sung từ nguồn dự phòng NSTƯ năm 2018 sang năm 2020; có các văn bản hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc về giải ngân các dự án ODA chuyển từ cơ chế ghi thu ghi chi sang giải ngân theo cơ chế trong nước theo Nghị quyết số 105/NQ-CP ngày 14-7-2020 của Chính phủ.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng liên tiếp tổ chức các Hội nghị giải ngân vốn nước ngoài năm 2020 với các Bộ, cơ quan trung ương và các nhà tài trợ để nắm bắt cụ thể khả năng thực hiện đến cuối năm của từng dự án, làm rõ các vướng mắc, nguyên nhân giải ngân chậm để đề xuất giải pháp điều hành kế hoạch trong các tháng cuối năm 2020, rồi báo cáo Thủ tướng. Đồng thời, Bộ đã phối hợp theo dõi, kiểm tra tình hình giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công tại các Bộ, ngành địa phương.

Cuối cùng, Bộ Tài chính đã thực hiện báo cáo Thủ tướng tình hình thanh toán vốn đầu tư công để phục vụ kịp thời các phiên họp Chính phủ thường kỳ và đột xuất về đôn đốc giải ngân, đề xuất giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và thanh toán vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước.

Nhờ các chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và Thủ tướng, cùng sự chủ động, nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư, tốc độ giải ngân vốn đầu tư công năm 2020 đã có sự chuyển biến tích cực so với năm 2019. Cụ thể, chi đầu tư phát triển ước đạt 82,8% dự toán tính đến ngày 31-12-2020, trong khi cùng kỳ đạt 62,9%.

Đặc biệt trong các tháng cuối năm, các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư đã rất nỗ lực, cố gắng tập trung cho công tác giải ngân, phấn đấu đến hết niên độ ngân sách nhà nước năm 2020 là ngày 31-12021 sẽ cơ bản giải ngân hết kế hoạch vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước đã được giao.

Để thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công năm 2021, khiến đầu tư công thực sự trở thành trụ cột ”kéo” tăng trưởng kinh tế, ngay từ khâu lập kế hoạch vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước năm 2021, Quốc hội, Chính phủ đã quán triệt nguyên tắc tập trung bố trí vốn cho các dự án chuyển tiếp, hoàn thành, đã đảm bảo thủ tục đầu tư.

Với Bộ Tài chính, chúng tôi đang xây dựng Chương trình công tác với nhiều giải pháp cụ thể. Về xây dựng chế độ, chính sách, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công trong quý 1-2021 nhằm tạo khung khổ pháp lý đồng bộ về quản lý, thanh toán, quyết toán các dự án đầu tư công theo quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công và pháp luật liên quan. Đồng thời minh bạch hóa quy trình thanh toán, quyết toán, quy định rõ trách nhiệm giữa chủ đầu tư, các đơn vị liên quan và cơ quan thanh toán trong quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư.

Về các chính sách khác, Bộ Tài chính sẽ tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát các khó khăn, vướng mắc liên quan đến pháp luật về Ngân sách nhà nước, đầu tư công, xây dựng, quy hoạch, kiến nghị hướng dẫn rõ hoặc sửa đổi, bổ sung bảo đảm đồng bộ, tránh chồng chéo, thuận lợi cho quá trình triển khai các chương trình, dự án đầu tư công.

Về tổ chức thực hiện, cơ quan Tài chính thực hiện kịp thời việc kiểm tra phân bổ vốn của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương nhằm đảm bảo việc giao kế hoạch vốn theo đúng Nghị quyết của Quốc hội, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Kịp thời đôn đốc các bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện việc phân bổ chi tiết đến từng chủ đầu tư, từng dự án và nhập dự toán trên hệ thống Tabmis để đảm bảo nguồn vốn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu giải ngân của các dự án.

Tích cực, chủ động tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện quyết liệt kế hoạch đầu tư công năm 2021 ngay từ đầu năm.

Chủ động theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn đầu tư công để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc theo thẩm quyền hoặc báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo điều hành đẩy nhanh tiến độ giải ngân, nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư công.

Tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương, các chủ đầu tư dự án đẩy nhanh tiến độ thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, ký hợp đồng, có khối lượng hoàn thành để thanh toán.

– Xin Bộ trưởng chia sẻ kế hoạch tài chính giai đoạn 2021 – 2025, đặc biệt là việc phát triển thị trường vốn?

– Trong giai đoạn 2016-2020, triển khai Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18-11-2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN và Nghị quyết số 25/2016/QH14 ngày 9-11-2016 của Quốc hội về kế hoạch tài chính ngân sách giai đoạn 2016-2020, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành đồng bộ khung khổ pháp lý, trên cơ sở đó đã thực hiện có hiệu quả việc tái cơ cấu danh mục nợ trái phiếu Chính phủ (TPCP) thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm và tái cơ cấu chi phí vay nợ, phát triển bền vững danh mục nợ TPCP và tái cơ cấu cơ sở nhà đầu tư để phát triển thị trường TPCP trở thành thị trường chuẩn cho hệ thống tài chính. Theo đó, việc đa dang hóa kỳ hạn TPCP đã được thực hiện hiệu quả với kỳ hạn dài nhất lên tới 30 năm.

Chúng tôi cũng tập trung phát hành trái phiếu kỳ hạn từ 10 năm trở lên khi thị trường thuận lợi, để vừa thu hút nhà đầu tư dài hạn, kéo dài kỳ hạn bình quân của danh mục nợ TPCP vừa tái cơ cấu chi phí vay nợ của Chính phủ.

Kết quả, kỳ hạn phát hành bình quân TPCP được cải thiện rõ rệt qua từng năm với mức bình quân giai đoạn 2016 – 2020 ước đạt trên 12,1 năm, cao hơn 7,41 năm so với bình quân giai đoạn 2011 – 2015. Riêng năm 2020, dự kiến kỳ hạn bình quân đạt mức trên 13,9 năm, cao hơn 6,92 năm so với năm 2015.

Lãi suất phát hành bình quân liên tục giảm và hiện ở mức thấp nhất từ trước đến nay. Cụ thể, lãi suất phát hành bình quân giai đoạn 2016-2020 là khoảng 4,88% một năm, thấp hơn 2,83% so với bình quân giai đoạn 2011- 2015. Đáng chú ý, lãi suất phát hành bình quân năm 2020 là khoảng 2,85% một năm, thấp hơn 3,43% so với năm 2015.

Kỳ hạn phát hành TPCP liên tục tăng trong khi lãi suất phát hành ngày càng giảm đã tạo điều kiện phát triển bền vững danh mục nợ Chính phủ. Kỳ hạn còn lại danh mục nợ TPCP tại thời điểm cuối năm 2020 dự kiến ở mức trên 8,3 năm, cao hơn 3,86 năm so với thời điểm cuối năm 2015 và cao hơn 5,32 năm so với thời điểm cuối năm 2014.

Còn lãi suất bình quân danh mục trái phiếu Chính phủ thời điểm cuối năm 2020 dự kiến ở mức trên 5,34% một năm, thấp hơn 1,79% so với thời điểm cuối năm 2015 và thấp hơn 1,98% so với thời điểm cuối năm 2014.

Danh mục nợ TPCP ngày càng bền vững đã tạo điều kiện cho Chính phủ tăng vay nợ trong nước, giảm vay nợ nước ngoài theo chủ trương cơ cấu lại nợ công giai đoạn 2016-2020 tại Nghị quyết 25/2016/QH14 ngày 9/11/2016  của Quốc hội.

Trong giai đoạn 2016-2020, Bộ Tài chính cũng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp để tái cơ cấu cơ sở nhà đầu tư theo hướng phát triển nhà đầu tư dài hạn. Theo đó, cơ sở nhà đầu tư trên thị trường TPCP có sự thay đổi tích cực khi các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã trở thành nhà đầu tư quan trọng nhất trên thị trường TPCP, còn tỷ lệ nắm giữ TPCP của các ngân hàng thương mại có xu hướng giảm.

Cụ thể, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các tổ chức tài chính phi ngân hàng dự kiến đạt trên 55% tính đến hết năm 2020, tăng lần lượt 34,65% và 31,73% so với năm 2014 và 2015. Còn tỷ lệ nắm giữ TPCP của các ngân hàng thương mại là dưới 45% tính đến hết năm 2020, giảm lần lượt 34,65% và 31,73% so với năm 2014 và 2015.

Để thị trường TPCP phát triển cả về quy mô và độ sâu, đóng vai trò ngày càng quan trọng cho đầu tư phát triển nền kinh tế, Bộ Tài chính sẽi tiếp tục thực hiện các giải pháp.

Thứ nhất, phát triển nhà đầu tư dài hạn như các quỹ đầu tư, hệ thống quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện; Thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư dài hạn trên thị trường.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng để tăng thanh khoản trên thị trường thứ cấp TPCP.

Thứ ba, tiếp tục phối hợp trong công tác phát hành TPCP với điều hành chính sách tiền tệ để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế.

Thứ tư, nghiên cứu đưa TPCP vào rổ chỉ số trái phiếu quốc tế để thu hút thêm các quỹ đầu tư, các nhà đầu tư chuyên nghiệp nước ngoài, tăng tính thanh khoản của thị trường thứ cấp đồng thời từng chuẩn hóa các quy định, quy tắc của thị trường theo thông lệ quốc tế.

Khi thực hiện có hiệu quả các giải pháp này, thị trường TPCP sẽ được tạo điều kiện phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu.

Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới