Thứ Năm, 9/04/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Giới chính trị và chủ công ty: thịnh vượng nhờ quan hệ

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

Giới chính trị và chủ công ty: thịnh vượng nhờ quan hệ

Hồ Quốc Tuấn (*)

Giới chính trị và chủ công ty: thịnh vượng nhờ quan hệ
Trụ sở tập đoàn năng lượng Enron tại Houston, Texas. Trước khi sụp đổ năm 2002, Enron có quan hệ mật thiết với gia đình Tổng thống Bush. Ảnh: WIKIPEDIA.

(TBKTSG) - Trong những tháng cuối năm 2013, một vài báo cáo của những tổ chức nước ngoài lẫn trong nước đề cập đến vấn đề như cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN), sự bất bình đẳng trong tương quan giữa khối DNNN - làm ăn không hiệu quả và nợ nần nhưng vẫn được bảo trợ và ưu đãi - với khối doanh nghiệp tư nhân đang gặp khó khăn và đi dần đến phá sản.

Tuy nhiên, có một góc khuất ít được đề cập hơn (hoặc ngầm đề cập khi nói về lợi ích nhóm), là mối quan hệ chính trị giữa các công ty tư nhân với giới lãnh đạo chính trị. Đây là câu chuyện khá phổ biến ở nhiều nước.

Những công ty tư có quan hệ với giới chính trị

Trước tiên, cần khẳng định rằng mối liên hệ giữa giới làm ăn và giới chính trị là một điều tồn tại ở hầu hết các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, bất kể thể chế chính trị và luật pháp. Gần đây truyền thông của Mỹ quan tâm đến việc tập đoàn tài chính JPMorgan Chase thuê mướn con em của giới tinh hoa lãnh đạo của Trung Quốc (qua một chương trình từng được gọi là “Sons và Daughters”) nhằm đạt được các mối liên hệ tạo thuận lợi cho làm ăn. Tờ New York Times cho biết chính phủ Mỹ và Hồng Kông đang bắt đầu điều tra về chương trình tuyển dụng này. Điều thú vị là tờ New York Times cho biết có những tài liệu ghi lại cụ thể việc các mối quan hệ có được từ thuê mướn này đã chuyển thành những thương vụ như thế nào. Ủy ban Chứng khoán (SEC) của Mỹ đang xem xét liệu những hành vi này có vi phạm luật về tham nhũng ở nước ngoài (Foreign Corrupt Practices Act) ra đời năm 1977.

Ngược dòng thời gian trở lại 10 năm trước, một vụ việc cũng từng đình đám là sự kiện Enron dưới thời Tổng thống Bush. Những tháng cuối năm 2001, đầu 2002, khi Enron rơi vào vụ bê bối xào nấu số liệu kế toán, giới truyền thông được dịp “lật lại” mối quan hệ giữa ban lãnh đạo dưới thời Bush lúc đó với ngành kinh doanh năng lượng. Khi đó, báo chí đăng tải nhiều thông tin cho thấy Enron đã cung cấp nhiều khoản tiền đóng góp lên tới nhiều triệu đô la cho các hoạt động chính trị của Bush và một số bạn bè thân hữu của gia đình Bush. Ngược lại, Bush cũng “ngẫu nhiên” đưa ra các chính sách nới lỏng kiểm soát thị trường năng lượng có lợi cho Enron, và thậm chí có người còn kể rằng Bush từng gọi điện thoại cho một vài thống đốc bang để nói với họ rằng Enron là một công ty tốt. Nhiều người sau này tranh luận rằng vụ sụp đổ của Enron đúng ra sẽ chẳng tác hại quá nặng đến kinh tế Mỹ nếu như không có những can thiệp ưu ái từ giới chính trị khiến Enron trở nên quá to, quá tham vọng và phải gian dối để che giấu những thất bại khổng lồ của nó.

Những công ty như JPMorgan Chase và Enron được coi là những công ty có quan hệ với giới chính trị (politically connected firms). Đây là những công ty tư nhân, nhưng lại có những mối quan hệ chính trị, tạo ra cho họ những lợi thế cạnh tranh “đặc biệt” và không lành mạnh. Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, những học giả nghiên cứu tài chính và kế toán dành nhiều chú ý tới sự khác biệt giữa các công ty tư nhân có liên hệ chính trị với các công ty không có mối liên hệ chính trị. Họ tìm thấy nhiều kết quả khá thú vị, qua đó gia tăng hiểu biết của người ta về cách thức mà các mối liên hệ chính trị chuyển thành lợi ích cụ thể và đặc biệt của công ty.

Đầu tiên, là về hình thức quan hệ chính trị. Các công ty này có thể trực tiếp đóng góp vào các quỹ chính trị của các chính trị gia ở những thể chế chính trị như Mỹ, hoặc thiết lập quan hệ chính trị qua việc thuê mướn những người có quan hệ chính trị, như trường hợp ở JPMorgan ở Trung Quốc. Việc thuê mướn người có quan hệ chính trị có thể bao gồm những người trong gia đình của các quan chức, các quan chức đã về hưu, hoặc những người từng công tác trong các cơ quan công quyền mà có liên hệ tốt với những quan chức hiện tại.

Các nghiên cứu này cũng tìm thấy một số con đường “truyền thống” mà các công ty có liên hệ chính trị có thể chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh bất bình đẳng là:

(1) có thể thắng thầu các hợp đồng lớn từ chính phủ hoặc DNNN;
(2) có thể ảnh hưởng lên chính sách có lợi cho ngành/công ty của mình;
(3) có thể vay tín dụng với giá rẻ;
(4) tránh bị phanh phui các gian lận về tài chính và các xì căng đan liên quan đến cung cách làm ăn (chẳng hạn phá hoại môi trường, kinh doanh vi phạm đạo đức...);
(5) được chính phủ hỗ trợ khi gặp khó khăn về tài chính;
(6) được hưởng lợi ích nhiều hơn trong chuyện tránh thuế.

Trong sự kiện của JP Morgan, đó là con đường thứ nhất, đạt được các hợp đồng từ chính phủ, trong khi trong sự kiện Enron, đó là con đường ảnh hưởng tới chính sách và phần nào là tránh được những điều tra ban đầu. Còn đối với một số ngân hàng trong khủng hoảng tài chính vừa qua, là việc được chính phủ hỗ trợ để vượt qua khó khăn. Ở những nước như Malaysia và Indonesia, người ta thấy một số công ty không thuộc chính phủ nhưng có liên quan đến gia đình của lãnh đạo chính trị thì dễ tiếp cận vốn trong nước hơn và không cần huy động vốn quốc tế.

Vấn đề ở Việt Nam

Nói như ở trên, các công ty có mối quan hệ tốt với giới chính trị có những lợi thế tương đối giống các DNNN ở ta, nhưng nó lại là các công ty tư nhân. Điều này có thể khiến những kêu gọi về cải cách DNNN ở Việt Nam bỏ sót những loại công ty này. Vì những công ty này cũng có những lợi thế không công bằng trong cạnh tranh tương tự những DNNN (có khi còn lớn hơn), và có thể làm hại lợi ích chung của nền kinh tế. Nhưng vì không phải là DNNN, nên các công ty này không bị rơi vào tầm ngắm cải cách. Và với những mối liên hệ phức tạp, không nhất định thể hiện qua quan hệ tiền bạc trực tiếp, những trường hợp này cũng có thể được cơ quan điều tra về tham nhũng phớt lờ.


Vì vậy, phải chăng chúng ta cần tìm hiểu bao nhiêu công ty ở Việt Nam có quan hệ mật thiết với giới chính trị (ở đây được hiểu là các quan chức địa phương, bộ, ngành hay thậm chí lãnh đạo các DNNN...), nó chiếm bao nhiêu thị phần trong các ngành và cái nền kinh tế của “các công ty có quan hệ chính trị” nó to tới mức nào? Điều này tất nhiên phụ thuộc vào cách mà chúng ta định nghĩa quan hệ chính trị là như thế nào, qua những thước đo nào, nhưng đó là thứ mà chúng ta có thể tham khảo cách làm của nhiều nghiên cứu trên thế giới. Điều quan trọng là, qua nhiều thước đo khác nhau, ta cần biết được diện mạo của nền kinh tế ở mảng màu xám này. Nếu các thước đo đều chỉ ra, cái nền kinh tế bao gồm những công ty có quan hệ chính trị to gấp nhiều lần nền kinh tế của những công ty không có hoặc ít có quan hệ chính trị, thì điều đó đáng lo. Vì như vậy, chính sách, thể chế, luật lệ và quyền lực sẽ bị bóp méo bởi những hành vi lobby chính sách không chính thức của những công ty đó.

Đây là một hiện tượng chèn ép (crowding out), nhưng không chỉ là giữa nhà nước với tư nhân, mà là giữa là công ty có quan hệ chính trị với công ty không có. Một câu hỏi mà người viết băn khoăn là bao nhiêu công ty được cho là phá sản có quan hệ chính trị tốt, công ty có quan hệ chính trị làm ăn ra sao so với bạn cùng ngành và bao nhiêu công ty nhận được các gói hỗ trợ trong thời gian qua có quan hệ chính trị tốt. Con số này nếu được công bố (đầy đủ) sẽ rất thú vị. Ngoài ra, cũng thử tìm hiểu xem các công ty có liên hệ với lãnh đạo các tập đoàn kinh tế (ở một mặt nào đó cũng là các quan chức) xem chúng làm ăn ra sao. Nếu như tập đoàn làm ăn thua lỗ nhưng các công ty có liên hệ với những người đứng đầu tập đoàn lại ăn nên làm ra thì cũng là điều đáng suy nghĩ.

Lời kết

Rút kinh nghiệm từ những sự kiện bê bối và những nghiên cứu trên thế giới, ta có thể thấy các công ty (tư nhân) có quan hệ chính trị có thể hưởng lợi từ hai vấn đề: họ có nhiều thông tin hơn về chính sách, có nhiều cơ hội có những hợp đồng từ chính phủ, có lợi thế về thị phần và nguồn vốn rẻ và do đó làm ăn tốt hơn. Nhưng họ cũng có lợi theo hướng ngược lại, là được hưởng bao cấp cho các khoản làm ăn yếu kém, và ít bị phát hiện khi gian dối.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây chúng ta chỉ trích nhiều về những yếu kém trong hoạt động và lợi thế không minh bạch mà DNNN sở hữu, nhưng không nói nhiều về những doanh nghiệp tư nhân nhưng cũng có liên hệ chính trị tốt. Ít nhiều gì, nó nằm trong khái niệm nhóm lợi ích thường được nói đến, nhưng không được chỉ rõ ra.

Sự khác biệt ở chỗ, các nhóm lợi ích là nói chung chung, trong khi đó các công ty tư nhân có liên hệ chính trị có thể được chỉ ra thông qua tìm hiểu thông tin về lãnh đạo doanh nghiệp và sử dụng những cách phân loại đã được các nghiên cứu trên thế giới sử dụng (chẳng hạn tìm hiểu xem những người trong hội đồng quản trị và ban điều hành có từng làm việc hoặc là người thân của giới chính trị hay không). Điều này cho phép chúng ta tìm hiểu cụ thể một số “đối tượng đặc biệt” trong một số nhóm lợi ích cụ thể. Những hiểu biết về các công ty có quan hệ chính trị quan trọng ở chỗ nó giúp ta thấy được sự bất cân xứng trong cạnh tranh ở trong cùng một khu vực kinh tế tư nhân, cho ta biết vì sao một số doanh nghiệp làm ăn thật thà không thể tồn tại và không có chỗ cho những ý tưởng khởi nghiệp có tiềm năng mà thiếu quan hệ.

Trước nay vấn đề này dường như vẫn là một cấm kỵ khi nói đến, nhưng khi đã muốn minh bạch và chống tham nhũng, khi đã muốn giảm bớt cách biệt giữa tư nhân và DNNN, thì không thể bỏ quên nó.

__________
(*) Giảng viên Đại học Bristol, Anh

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới