(KTSG) - Nền kinh tế bạc hay nền kinh tế dành cho người cao tuổi được đề cập đến nhiều ở nước ta trong thời gian gần đây nhưng trên thực tế chính sách hỗ trợ phát triển vẫn rời rạc và chưa có tính hệ thống. Để không bỏ lỡ khai thác “mỏ vàng” này, cần nhìn rõ những bất cập cốt lõi của chính sách hiện hành.
- TPHCM: Giá hoa rẻ, khu chợ ‘Trên bến dưới thuyền’ thu hút người dân đến mua sớm
- Giá căn hộ tăng mạnh, làm thế nào để người dân tiếp cận nhà ở?
Tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam đang nhanh hơn dự báo, với hơn 14 triệu người cao tuổi, chiếm gần 16% dân số trong năm 2024, dự kiến là 18 triệu người vào năm 2030(1). Mô hình gia đình đa thế hệ thu hẹp đang chuyển dần trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi từ gia đình sang xã hội. Theo Tổng cục Thống kê năm 2021-2022, khoảng 35% số người cao tuổi sống một mình hoặc cùng người cao tuổi khác.

Tuổi thọ trung bình tăng, người Việt Nam sống lâu hơn nhưng không sống khỏe với mỗi người mắc trung bình 3-4 bệnh mãn tính(2). Họ phải đối mặt với bệnh mãn tính, suy giảm thể chất và nguy cơ suy yếu tinh thần nên cần đến các dịch vụ chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng, hỗ trợ ngay tại cộng đồng. Do vậy, hệ thống y tế vốn chỉ tập trung vào điều trị các bệnh cấp tính buộc phải được tổ chức lại theo hướng dự phòng, quản lý bệnh mạn tính và chăm sóc lão khoa liên tục. Có điều là tốc độ phát triển hạ tầng chăm sóc không theo kịp tốc độ già hóa dân số và sự thay đổi mô hình gia đình truyền thống đã đặt ra thách thức lớn về an sinh xã hội.
Già hóa dân số vừa là thách thức an sinh vừa tạo áp lực lớn lên kinh tế vĩ mô. Lực lượng lao động tăng chậm, tuổi nghỉ hưu chưa linh hoạt theo nhóm nghề, trong khi quỹ hưu trí và bảo hiểm y tế phải chi trả ngày càng nhiều. Chi phí chăm sóc tăng nhanh hơn mức đóng góp, đe dọa bền vững hệ thống an sinh.
Sức khỏe tinh thần của người cao tuổi cũng trở thành vấn đề cấp bách, khi các chương trình hỗ trợ chủ yếu vẫn ở mức thí điểm. “Vấn đề cô đơn” được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh là nhiệm vụ chính trị quan trọng tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương ngày 16-9-2025, càng khẳng định nhu cầu đồng thời chăm sóc cả thể chất và tinh thần cho người cao tuổi.
Những điểm nghẽn
Một trong những hạn chế lớn nhất hiện nay là Việt Nam chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh cho chăm sóc dài hạn (long-term care), vốn là trụ cột của kinh tế bạc. Các dịch vụ chăm sóc tại nhà, cộng đồng hay trung tâm dưỡng lão phát triển chưa đồng bộ, dẫn đến khó kiểm soát chất lượng và thu hút đầu tư của tư nhân. Cùng với đó là thiếu bảo hiểm chăm sóc dài hạn khiến chi phí chăm sóc phụ thuộc chủ yếu vào gia đình trong khi cấu trúc gia đình hiện nay đã có nhiều thay đổi.
Nhân lực ngành lão khoa cũng là điểm nghẽn nghiêm trọng. Việt Nam có đào tạo chuyên ngành lão khoa nhưng quy mô nhỏ và chưa bắt buộc trong chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa. Do đó, người cao tuổi chủ yếu được điều trị bởi bác sĩ nội tổng quát, trong khi các bệnh lý lão khoa đòi hỏi cách tiếp cận đa chuyên ngành, quản lý lâu dài và hiểu biết sâu về đặc thù tuổi già.
Vấn đề an sinh xã hội còn bộc lộ nhiều hạn chế, như lương hưu trung bình thấp, trợ cấp xã hội cho người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt ở nông thôn, chưa đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu. Tuổi nghỉ hưu chưa linh hoạt, chưa tính đặc thù lao động khu vực phi chính thức, vốn là nhóm chiếm phần lớn lực lượng lao động và có nguy cơ không đủ tích lũy khi về già.
Khoảng cách số cũng là thách thức, nhiều người cao tuổi khó tiếp cận thiết bị thông minh, Internet hoặc dịch vụ số cơ bản. Chưa có chương trình đào tạo kỹ năng số quốc gia dành riêng cho nhóm này, trong khi thiết kế ứng dụng chưa thân thiện với người cao tuổi.
Các ngành dịch vụ tiềm năng dành cho người cao tuổi như giải trí, giáo dục suốt đời và các sản phẩm chuyên biệt hiện chủ yếu phát triển nhỏ lẻ, phân tán, chưa được hỗ trợ bởi các cơ chế ưu đãi thuế, tiêu chuẩn dịch vụ hay chính sách khuyến khích rõ ràng. Khi chính sách đối với người cao tuổi vẫn dừng ở những định hướng chung, thị trường khó có điều kiện hình thành một hệ sinh thái dịch vụ bền vững và phù hợp với nhiều nhóm đối tượng.
Cần giải pháp đồng bộ
Để kinh tế bạc trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần điều chỉnh chính sách trên nền tảng giải quyết điểm nghẽn cốt lõi. Trước hết, ban hành khung pháp lý chăm sóc dài hạn riêng để chuẩn hóa dịch vụ tại nhà, cộng đồng và trung tâm dưỡng lão, đồng thời tạo điều kiện hình thành quỹ bảo hiểm chăm sóc dài hạn để chia sẻ chi phí giữa Nhà nước, gia đình và doanh nghiệp. Đây chính là chìa khóa thu hút đầu tư tư nhân và mở rộng dịch vụ theo hướng phù hợp với nhu cầu thực tiễn, thân thiện với người cao tuổi, gắn với cộng đồng.
Cùng với đó, việc phát triển nhân lực ngành lão khoa cần được đưa vào chương trình bắt buộc của các trường y khoa. Nhà nước có thể áp dụng cơ chế học bổng hoặc miễn giảm học phí cho sinh viên chọn chuyên ngành này, đồng thời tổ chức đào tạo bổ sung đội ngũ bác sĩ gia đình và y tế cơ sở về chăm sóc người cao tuổi. Khi nhân lực được chuẩn hóa, hệ thống y tế sẽ giảm tải và người bệnh được chăm sóc toàn diện hơn.
Chính sách an sinh cũng cần điều chỉnh theo hướng bao trùm và bền vững hơn, nghiên cứu cơ chế tuổi nghỉ hưu linh hoạt theo nhóm nghề và điều kiện lao động, qua đó giảm áp lực cho lao động lớn tuổi trong các ngành nặng nhọc. Với bảo hiểm hưu trí tự nguyện, Nhà nước có thể hỗ trợ một phần mức đóng để khuyến khích lao động phi chính thức tham gia sớm. Mô hình TPHCM hỗ trợ 100% BHYT cho người cao tuổi từ 65 đến dưới 75 tuổi, có hiệu lực từ 14-11, cho thấy tác động tích cực và có thể nhân rộng.
Chuyển đổi số cần được triển khai thực chất thông qua chương trình quốc gia về năng lực số cho người cao tuổi, hỗ trợ thiết bị thông minh giá phù hợp và chuẩn hóa ứng dụng thân thiện với người cao tuổi.
Doanh nghiệp cần được khuyến khích tham gia thị trường kinh tế bạc thông qua ưu đãi thuế, tín dụng và hỗ trợ đất đai, đồng thời xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cho các sản phẩm và dịch vụ liên quan. Có thể tham khảo mô hình hợp tác công - tư trong phát triển cơ sở chăm sóc và đô thị thân thiện với người cao tuổi từ kinh nghiệm Hàn Quốc(3) hay chương trình “Chăm sóc tại nhà dựa trên tình nguyện viên” (Volunteer based Home Care) trong việc huy động hiệu quả nguồn lực địa phương(4). Nhật Bản cũng kết hợp trợ cấp xã hội, dịch vụ cộng đồng và ngân sách công để phát triển các mô hình chăm sóc gắn với cộng đồng, giúp người cao tuổi sống độc lập.
Việt Nam có thể học hỏi và điều chỉnh phù hợp, đặc biệt thông qua hợp tác công - tư, để xây dựng hệ sinh thái dịch vụ toàn diện, bền vững và dễ tiếp cận cho mọi nhóm thu nhập. Có thể thấy rằng nền kinh tế bạc vừa có thể giúp Việt Nam thích ứng hiệu quả với già hóa dân số mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế - xã hội mới.
26-12 là Ngày Dân số Việt Nam. Theo Quyết định 326-TTg 19-5-1997 của Thủ tướng Chính phủ, ngày này nhằm mục đích nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề dân số, từ đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước và hạnh phúc của mỗi gia đình. Tháng 12 cũng được chọn là “Tháng hành động quốc gia về dân số”.
(1) https://e.vnexpress.net/news/news/number-of-vietnamese-elderly-rises-1-5-times-in-a-decade-4837462.html
(2) https://vietnamnet.vn/en/vietnam-s-population-aging-at-rapid-pace-minister-of-health-2387379.html
(3) https://tuoitre.vn/seoul-mo-rong-mo-hinh-san-choi-cho-nguoi-cao-tuoi-20251019100848777.htm
(4) https://www.helpage.org/silo/files/home-care-for-older-people-the-experience-of-asean-countries.pdf







