(KTSG Online) - Kinh tế xanh và kinh tế số phải trở thành động lực tăng trưởng giai đoạn tới, bên cạnh các động lực truyền thống. Để làm được điều đó, cần xây dựng một hệ sinh thái chính sách đồng bộ về công nghiệp, tài khóa, nhân lực đồng thời xác định những điểm đột phá để tối ưu cả mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững.
"Nền kinh tế năm 2026 nói chung, cũng như ngành xây dựng, sẽ khả quan hơn so với 2025", ông Đinh Hồng Kỳ, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) nói tại một hội thảo với về dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026.
Bên cạnh vai trò lãnh đạo HUBA, ông Kỳ đồng thời giữ vai trò Chủ tịch công ty Secoin, một đơn vị chuyên về vật liệu xây dựng, nên niềm tin của ông về sự "tươi sáng" này còn đến từ mục tiêu giải ngân vốn đầu tư công gần một triệu tỉ đồng trong năm 2026 của chính phủ. Cụ thể, tại hội nghị ngày 9-1, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công năm 2025 đến ngày 31-1 và bắt tay ngay giải ngân kế hoạch vốn năm 2026.
Theo ông, với tốc độ và quy mô giải ngân vốn cao hơn 10% so với năm ngoái, đầu tư công sẽ tạo ra "lực đẩy” khá tốt cho nền kinh tế. Do đó, phân khúc bất động sản đô thị và công nghiệp sẽ “ấm” lên.
Điều này phần nào nhận được sự đồng thuận từ EuroCham, khi báo cáo Chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) của tổ chức này kỳ vọng phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư công là những động lực quan trọng trong 12-18 tháng tới, đặc biệt là ở các lĩnh vực, như xây dựng, thương mại, logistics và các ngành hướng đến tiêu dùng.
Bổ sung, PGS. TS Trần Đình Thiên, chuyên gia kinh tế, cho biết điểm thuận lợi của đầu tư công là dư địa chính sách tài khóa còn lớn. "Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ khoảng 35%, nên có thể tận dụng lợi thế này để tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng không chỉ trước mắt mà còn dài hạn", ông nói.
Bên cạnh quy mô vốn “mồi" lớn, tăng trưởng xuất khẩu và tiêu dùng năm 2026 cũng duy trì triển vọng tích cực, dù tồn tại những yếu tố bất định như khả năng giảm nhu cầu hàng hóa của Mỹ và tăng chi phí đầu vào của nhà sản xuất Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, việc kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ giảm, có thể được bù đắp bằng việc gia tăng kim ngạch ở những thị trường lớn khác, đơn cử như Trung Quốc.
Với tiêu dùng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2025 ước tăng 9,2% so với 2024, một phần nhờ lạm phát ổn định và du lịch hồi phục tốt. Bình quân CPI 2025 tăng 3,31%, thấp hơn mức 3,63% của 2024. Khách quốc tế đạt kỷ lục gần 21,2 triệu lượt, tạo ra doanh thu 40 tỷ USD, tương đương 7% GDP.
Hai yếu tố này, theo ông Thành, cơ bản tiếp tục thuận lợi trong 2026, góp phần củng cố cho tiêu dùng nội địa. Lạm phát cũng không phải vấn đề đáng lo vì giá xăng dầu dự báo tiếp tục giảm.
Ngược lại, rủi ro sẽ nằm ở niềm tin tiêu dùng - yếu tố ảnh hưởng đến sức mua. Tuy nhiên, yếu tố này thể cải thiện, nếu du lịch và xuất khẩu thuận lợi, góp phần tạo thêm việc làm cho khu vực dịch vụ và sản xuất.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch HĐQT, Tổng công ty phát triển đô thị Kinh Bắc, cho rằng quá trình tái cấu trúc nền kinh tế đang diễn ra rõ nét. "Chưa bao giờ các quyết định đầu tư tại bộ ngành, địa phương được thực hiện nhanh như hiện nay", ông nói.
Một trụ cột khác được ông Tâm chỉ ra là thành tựu ngoại giao kinh tế. Cụ thể, việc thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với hầu hết các quốc gia lớn giúp mở rộng không gian phát triển và thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao.
Như vậy, doanh nghiệp có thêm cơ hội đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, củng cố vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu nhờ việc hoàn thiện hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới như RCEP... hay ký các FTA song phương (Việt Nam - UAE, Việt Nam - Israel).
"Nhà đầu tư nước ngoài đang nhắm đến thị trường Mỹ, bắt đầu chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang châu Âu ngay tại Việt Nam", ông Tâm nói.
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số giai đoạn 2026-2030, để tạo đà trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Tuy nhiên, thách thức là không nhỏ, khi cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia lớn gia tăng và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc.
Theo ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Phó tổng giám đốc, Khối đầu tư, Công ty Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS), trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam ngày càng càng tham gia sâu vào thị trường toàn cầu, bên cạnh các điều kiện truyền thống về chất lượng, giá cả và tiến độ giao hàng, thì các tiêu chuẩn ESG và yêu cầu truy xuất nguồn gốc đang tạo tác động mạnh tới doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam.
“Đây là hai yếu tố then chốt, không chỉ riêng với ngành nông nghiệp mà cho tất cả các ngành nghề muốn duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô toàn cầu”, ông Linh nói.
Muốn thực hành ESG, doanh nghiệp Việt Nam phải dành khoảng 3-5 năm đầu, với số vốn đầu tư lớn cho công nghệ, hệ thống, tư vấn, đào tạo… tiệm cận và đáp ứng các tiêu chuẩn ở mức cơ bản. Đồng thời, đáp ứng yêu cầu khắt khe về tốc độ phản hồi thông tin, bởi các nhà nhập khẩu, đặc biệt tại châu Âu, có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ gốc của sản phẩm chỉ trong vòng 4 giờ đồng hồ.
Thậm chí, trong tương lai, áp lực cạnh tranh có thể đẩy thời gian truy xuất xuống còn 1 giờ, hoặc doanh nghiệp phải cung cấp trực tiếp cho khách hàng một nền tảng dữ liệu, để họ trực tiếp truy cập thông tin, mà không qua khâu trung gian.
"Nếu không thể cung cấp dữ liệu ngay lập tức đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chưa vận hành hiệu quả hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống”, ông Linh nói và cho rằng thực tế này buộc doanh nghiệp phải số hóa toàn diện, chuyển đổi sang các hệ thống quản trị hiện đại như SAP.
Trong khi đó, ông Cao Hữu Hiếu, Tổng giám đốc, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), cho biết doanh nghiệp không còn kỳ vọng vào những đơn hàng "vài triệu sản phẩm" - từng là "xương sống" của ngành, nhất là khi ngành dệt may Việt Nam đang được định vị ở phân khúc trung và cao cấp - tức đòi hỏi tay nghề cao, sản xuất linh hoạt và khả năng xử lý những đơn hàng khó, chuyển mã liên tục trong thời gian ngắn.
"Có khi chỉ 2-3 ngày là dây chuyền phải chuyển sang mã hàng mới, không còn chuyện làm một mã vài tuần liền", ông Hiếu nói.
Để thích ứng với bối cảnh mới, các toàn bộ nền kinh tế buộc phải thay đổi, đặt yếu tố xanh và số vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Thực tế, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, với kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và đặt khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ở vị trí trung tâm của phát triển, cũng là hai trong số tám nội dung xuyên suốt được Đại hội XIV xác định, nhằm thống nhất tư duy, tập trung triển khai nhanh, hiệu quả các quyết sách chiến lược trong giai đoạn phát triển mới.
Ông Đặng Thành Tâm cho rằng, vấn đề cốt lõi cần tập trung giải quyết là cải thiện năng lực hấp thụ vốn, thực thi chính sách và triển khai dự án thông qua quy hoạch thống nhất. Chẳng hạn, việc doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở xã hội cho công nhân có biên lợi nhuận thấp, song đổi lại là sự ổn định nhân sự để sản xuất bền vững. Ngoài ra, việc chủ động chuẩn bị hạ tầng công nghệ cao, năng lượng sạch chính là “xây dựng bến cảng thông minh, để đón tàu lớn cập bến”.
Tương tự, ông Nguyễn Đức Hùng Linh cũng cho rằng, doanh nghiệp chỉ có thể thoát khỏi "bẫy quy mô thấp - lợi nhuận thấp" nếu dịch chuyển lên chuỗi giá trị cao hơn hoặc tham gia trực tiếp vào chuỗi sản xuất toàn cầu.
Ở khía cạnh này, theo ông Đặng Thành Tâm, chuyển đổi xanh sẽ là "giấy thông hành" bắt buộc với các doanh nghiệp. Dù tốn kém, theo ông, đây là sự hy sinh cần thiết của doanh nghiệp nhằm đóng góp cho mục tiêu chung khi Việt Nam đã cam kết đạt Net Zero vào năm 2050.
Với doanh nghiệp sản xuất, lãnh đạo Vinatex cho biết, doanh nghiệp buộc phải liên tục tái cấu trúc, tăng năng suất để tối ưu chi phí, vừa giữ việc làm cho người lao động, vừa đảm bảo lợi nhuận. Cùng với đó là tối ưu nguồn lực bằng cách tập trung vào sản phẩm giá trị cao thay vì những đơn hàng đại trà biên lãi thấp đang dần dịch chuyển sang các quốc gia có chi phí lao động rẻ hơn.
Từ góc nhìn chuyên gia, TS. Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc phụ trách chuyên môn, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), cho rằng các cơ quan quản lý Nhà nước cần xây dựng các chính sách phù hợp với từng quy mô và cấp độ doanh nghiệp. Những chính sách này sẽ giữ vai trò “bà đỡ”, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính đồng thời duy trì môi trường xã hội tích cực, khuyến khích đổi mới.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy tư duy liên kết giữa doanh nghiệp nội địa với nhau cũng như giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI để chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau và cùng phát triển bền vững. Điều quan trọng không chỉ dừng lại ở mục tiêu mà là cách thức thực thi, biến mục tiêu thành hành động cụ thể của chính quyền, doanh nghiệp và người dân.
“Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo, tối ưu hóa giữa tăng trưởng cao và phát triển bền vững. Ở cấp độ doanh nghiệp, trọng tâm phải là nâng cao năng suất lao động, năng lực công nghệ thông tin và nghiên cứu. Khát vọng quốc gia chỉ có thể trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành khát vọng của từng người dân, doanh nghiệp”, ông Minh nói.













