(KTSG) - Mục tiêu quản lý an toàn thực phẩm là chính đáng, nhưng vấn đề nằm ở “độ dốc” của chính sách. Khi quy định có hiệu lực ngay, rủi ro tuân thủ và rủi ro vận hành dịch chuyển sang doanh nghiệp và cơ quan thực thi, hệ quả có thể lan ra toàn bộ chuỗi cung ứng.
- Cần sớm gỡ vướng Nghị định 46 để hàng nông sản thông quan
- Thủ tướng yêu cầu gỡ ách tắc thực phẩm xuất nhập khẩu theo Nghị định 46
Từ ngày 26 đến 29-1-2026, theo phản ánh của báo Điện tử Chính phủ, tại nhiều cửa khẩu đường bộ, đường thủy và đường hàng không ghi nhận tình trạng tồn đọng hơn 700 lô hàng nông sản nhập khẩu, tổng khối lượng khoảng 300.000 tấn (1). Nhiều lô hàng phải chờ do quy trình kiểm tra an toàn thực phẩm thay đổi ngay khi Nghị định 46/2026/NĐ-CP được ký ban hành và có hiệu lực trong ngày.

Một nghị định, nhiều điểm nghẽn chỉ sau vài ngày
Ngày 26-1-2026, Nghị định 46/2026/NĐ-CP được ký ban hành và có hiệu lực ngay trong ngày. Khi thời điểm có hiệu lực trùng ngày ký, nhiều chủ thể buộc phải chuyển trạng thái rất nhanh, từ theo dõi văn bản sang thực thi nghĩa vụ. Đối với hoạt động kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, việc thay đổi phương thức kiểm tra so với quy định trước đây khiến giai đoạn đầu triển khai phát sinh vướng mắc.
Hệ quả dễ nhận thấy là thời gian xử lý kéo dài, hàng hóa phải chờ, rủi ro đứt chuỗi cung ứng tăng lên. Với doanh nghiệp, mỗi ngày chậm thông quan đồng nghĩa phát sinh chi phí logistics, chi phí kho bãi và chi phí cơ hội. Với cơ quan quản lý và lực lượng thực thi, đó là nguy cơ ùn ứ hồ sơ, áp lực giải thích, hướng dẫn, cùng rủi ro áp dụng không thống nhất giữa các địa bàn.
Trước phản ánh từ địa phương và tình trạng ách tắc, ngày 31-1-2026, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn 1012/VPCP-KGVX về xử lý kiến nghị tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và hướng dẫn thực hiện nghị định. Công văn giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan khẩn trương xử lý và tổng hợp báo cáo trong thời hạn rất ngắn.
Đáng lưu ý là nhịp điều hành theo hướng xử lý tình huống phát sinh xuất hiện ngay sau khi văn bản có hiệu lực. Khi một nghị định vừa áp dụng đã phải kích hoạt cơ chế chỉ đạo khẩn để gỡ vướng, câu hỏi quản trị đặt ra không chỉ nằm ở nội dung quy định, mà còn nằm ở mức độ chuẩn bị điều kiện thực thi.
Khi “hiệu lực ngay” không còn hiếm
Nghị định 46 không phải trường hợp đơn lẻ. Quan sát cơ sở dữ liệu văn bản cho thấy trong tháng 1-2026, Chính phủ đã ban hành 50 nghị định. Theo thống kê của người viết, có khoản 38/50 nghị định vừa ban hành ở trong tình trạng có hiệu lực ngay, tức thời điểm có hiệu lực trùng với ngày ký ban hành.
Vấn đề nằm ở cách vận hành. Khi một văn bản có hiệu lực ngay trong ngày ban hành, người chịu tác động phải xử lý đồng thời ba việc. Thứ nhất là tiếp cận thông tin. Thứ hai là diễn giải và hiểu quy định. Thứ ba là chuyển hóa quy định thành quy trình, hồ sơ và năng lực tuân thủ. Trên thực tế, ba việc này hiếm khi hoàn thành trong một ngày, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Với cơ quan thực thi tuyến đầu như cửa khẩu, chi cục, đơn vị kiểm tra, thời gian chuyển trạng thái càng khó. Cơ quan thực thi vừa phải áp dụng chuẩn mới, vừa phải xử lý tồn đọng theo chuẩn cũ. Trong khi đó, hướng dẫn chi tiết và năng lực hệ thống như quy trình nghiệp vụ, biểu mẫu, kết nối dữ liệu có thể chưa vận hành trơn tru.
Câu chuyện ùn ứ hàng hóa sau Nghị định 46 cho thấy rủi ro đó là có thật.
Pháp luật cho phép “hiệu lực ngay” nhưng cần hàng rào cho ngoại lệ
Căn cứ pháp lý trực tiếp cho cơ chế “hiệu lực ngay” là điều 53 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025. Luật quy định nguyên tắc chung và các trường hợp ngoại lệ.
Theo nguyên tắc chung, văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan trung ương ban hành có hiệu lực không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành. Với chính quyền địa phương, mốc tối thiểu là 10 ngày. Khoảng “đệm” này giúp xã hội tiếp cận thông tin. Cơ quan quản lý có thời gian chuẩn bị tổ chức thi hành. Chủ thể chịu tác động có thời gian sắp xếp việc tuân thủ.
Với trường hợp ngoại lệ, văn bản có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành nếu được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn hoặc thuộc trường hợp đặc biệt. Cùng với đó là yêu cầu công khai, đăng tải và đưa tin theo quy định. Ngoại lệ này liên quan chặt chẽ đến ba điều khoản sau: (i) điều 50 về trường hợp xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn; (ii) điều 51 quy định trình tự, thủ tục rút gọn, kèm nghĩa vụ nêu rõ vấn đề phát sinh, dự báo tác động tiêu cực và hậu quả nếu không kịp thời ban hành; và (iii) điều 52 về các trường hợp đặc biệt.
Bên cạnh đó, điều 53 còn có một điểm then chốt tại khoản 2. Quy định này yêu cầu văn bản quy định chi tiết phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản giao quy định chi tiết hoặc thời điểm có hiệu lực của nội dung được giao quy định chi tiết. Đây là cơ sở pháp lý làm gia tăng áp lực ban hành văn bản dưới luật theo “đúng nhịp” của luật và các quy định giao chi tiết. Tuy nhiên, luật này không quy định rõ về khoảng thời gian chuyển tiếp bắt buộc đối với văn bản quy định chi tiết có phải tuân thủ theo nguyên tắc chung và ngoại lệ nêu trên hay không!
Từ góc nhìn tổ chức thi hành, khoản 2 của điều 53 tạo ra một thực tế. Khi nhiều luật được ban hành trong thời gian ngắn và thời điểm có hiệu lực lại sát nhau, áp lực ban hành nghị định và thông tư hướng dẫn tăng mạnh. Văn bản quy định chi tiết bị kéo vào yêu cầu có cùng thời điểm hiệu lực với luật, trong khi năng lực soạn thảo, thẩm định, lấy ý kiến và chuẩn bị điều kiện thi hành không phải lúc nào cũng theo kịp.
Nếu tiến độ bị trễ, hệ quả là nợ đọng văn bản hướng dẫn. Khi đó, cơ quan ban hành đứng trước lựa chọn khó. Một mặt là rủi ro khoảng trống pháp lý nếu thiếu văn bản quy định chi tiết đúng thời điểm. Mặt khác là rủi ro vận hành nếu ban hành gấp và cho có hiệu lực ngay trong khi điều kiện triển khai chưa sẵn sàng. Xu hướng “hiệu lực ngay” vì vậy không chỉ đến từ nhu cầu phản ứng nhanh, mà còn phản ánh sức ép tiến độ và nợ đọng hướng dẫn trong chu trình lập quy.
Về thiết kế, cho phép phản ứng nhanh trong hoàn cảnh đặc biệt là hợp lý. Nhưng khi hiện tượng “hiệu lực ngay” xuất hiện với tần suất lớn, ranh giới giữa nguyên tắc chung và ngoại lệ dễ bị làm mờ. Khi đó, vấn đề không còn là kỹ thuật ghi ngày hiệu lực. Vấn đề nằm ở kỷ luật lập quy, trách nhiệm giải trình và năng lực tổ chức thi hành.
Ùn tắc vận hành
Tình trạng trên dẫn đến hệ lụy thứ nhất là ách tắc trong vận hành. Trong bối cảnh phương thức kiểm tra thay đổi, việc triển khai đồng loạt tại cửa khẩu ở giai đoạn đầu phát sinh khó khăn, vướng mắc. Một số thông tin từ địa phương cho thấy, với nhóm hàng rau, củ, quả tươi, phương thức kiểm tra có thể kéo theo việc lấy mẫu kiểm nghiệm. Thời gian chờ kết quả có thể từ 7-15 ngày, tùy chỉ tiêu(2). Khi quy trình mới bị áp dụng ngay, độ trễ kỹ thuật lập tức chuyển thành độ trễ thương mại.
Hệ lụy thứ hai là rủi ro pháp lý và chi phí tuân thủ. Chi phí tuân thủ trong trường hợp này không chỉ là chi phí giấy tờ. Chi phí đó còn gồm chi phí trì hoãn giao hàng, chi phí lưu kho, chi phí vốn, chi phí xử lý hợp đồng và chi phí kiểm soát rủi ro phát sinh khi hàng đã ở cửa khẩu nhưng quy trình mới chưa vận hành trơn tru. Với thực phẩm tươi, độ trễ vài ngày có thể làm tăng rủi ro chất lượng và rủi ro thương mại.
Đáng chú ý, một số phản ánh nêu tình trạng thiếu quy định chuyển tiếp cho các lô hàng đã nhập khẩu hoặc đang làm thủ tục trước thời điểm Nghị định 46 có hiệu lực. Tình trạng này khiến giai đoạn đầu lúng túng trong việc phân định áp dụng cơ chế cũ hay mới. Dù cách diễn đạt có thể khác nhau giữa các nguồn, điểm chung là quy định thay đổi nhưng điều khoản chuyển tiếp không xử lý trúng tình huống của hàng đang lưu chuyển. Khi đó, cửa khẩu thường là nơi phát lộ điểm nghẽn đầu tiên.
Hệ lụy thứ ba là hiệu quả quản trị bị bào mòn. Công văn 1012/VPCP-KGVX yêu cầu phối hợp khẩn trương và báo cáo trong thời hạn rất ngắn. Điều này cho thấy bộ máy điều hành phải chạy theo để gỡ vướng ngay sau khi văn bản được ban hành. Khi văn bản vừa có hiệu lực đã cần cơ chế chỉ đạo hỏa tốc, khoảng cách giữa ban hành và tổ chức thi hành vẫn còn lớn. Khoảng cách này không chỉ tạo ùn tắc. Khoảng cách này còn làm tăng rủi ro áp dụng không thống nhất giữa các địa bàn, kéo theo nhiều công văn hướng dẫn và tâm lý đợi hướng dẫn rồi mới làm.
Về dài hạn, nếu thị trường hình thành nhận thức chung rằng quy định có thể thay đổi và có hiệu lực ngay, hành vi tuân thủ sẽ dịch chuyển từ chủ động sang phòng thủ. Doanh nghiệp phải tốn nhiều nguồn lực hơn cho việc đầu tư vào ứng phó rủi ro pháp lý. Cơ quan quản lý cũng dễ bị cuốn vào vòng xoáy giải thích, xử lý tình huống thay vì nâng cao chất lượng chính sách và thi hành chính sách.
Gợi mở giải pháp để tách “hiệu lực thi hành” khỏi “cú sốc tuân thủ”
Thứ nhất, tăng nghĩa vụ giải trình khi lựa chọn hiệu lực thi hành ngay. Khi một nghị định ghi thời điểm có hiệu lực trùng ngày ký ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo phải công khai một bản giải trình ngắn, dễ tra cứu. Bản giải trình cần nêu căn cứ áp dụng thủ tục rút gọn hoặc trường hợp đặc biệt, lý do không thể áp dụng khoảng thời gian chuyển tiếp theo nguyên tắc chung và nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp. Nếu không có giải trình, người chịu tác động khó phân biệt đâu là tình huống thật sự khẩn cấp, đâu là hệ quả của việc dồn tiến độ soạn thảo văn bản hướng dẫn.
Thứ hai, thiết kế khoảng thời gian chuyển tiếp hợp lý để tách hiệu lực pháp lý khỏi cách áp dụng chế tài. Có trường hợp Nhà nước cần quy định có hiệu lực ngay để tránh khoảng trống quản lý. Nhưng “hiệu lực ngay” không nhất thiết đồng nghĩa áp dụng chế tài ngay với cùng cường độ. Có thể thiết kế thời gian ân hạn cho nghĩa vụ thủ tục hoặc nghĩa vụ cần thời gian chuẩn bị. Trong giai đoạn này, cơ quan quản lý ưu tiên hướng dẫn, cảnh báo và yêu cầu khắc phục. Chế tài chỉ áp dụng đối với hành vi gian dối, che giấu thông tin hoặc tạo rủi ro cao.
Với nhóm quy định tác động trực tiếp đến hàng hóa đang lưu chuyển, điều khoản chuyển tiếp cần rõ và dễ áp dụng. Điều khoản này cần xác định cơ chế đối với lô hàng đã mở tờ khai, đã xếp lên phương tiện, hoặc đang chờ kết quả kiểm nghiệm thì tiếp tục áp dụng theo cơ chế cũ.
Thứ ba, xử lý nguyên nhân dồn tiến độ của văn bản hướng dẫn. Nhiều trường hợp “hiệu lực ngay” bắt nguồn từ việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết. Muốn giảm phụ thuộc vào ngoại lệ, cần quản trị tiến độ theo hướng công khai và gắn trách nhiệm. Cơ quan soạn thảo phải công bố lộ trình soạn thảo gồm lấy ý kiến, thẩm định và hoàn thiện. Cơ quan soạn thảo cũng cần công khai lý do trễ và biện pháp khắc phục. Kỷ luật này không nhằm “bắt lỗi” mà nhằm giảm tình trạng phải dùng ngoại lệ như một cách “chạy” tiến độ.
Thứ tư, xem việc chuẩn bị điều kiện triển khai thi hành là một phần của tiến trình ban hành văn bản, nhất là khi văn bản có hiệu lực ngay. Nếu văn bản có hiệu lực ngay, cơ quan quản lý phải chuẩn bị năng lực thực thi ngay. Điều này không thể chỉ trông vào một đường link đăng tải công khai văn bản. Doanh nghiệp cần một gói thi hành tối thiểu, gồm tóm tắt điểm mới, bộ hỏi đáp, danh mục hồ sơ, biểu mẫu, quy trình nghiệp vụ và đầu mối giải đáp. Với lĩnh vực có liên quan kiểm tra, kiểm nghiệm, cần kèm theo thông tin về năng lực tiếp nhận, thời gian xử lý dự kiến và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị. Khi thiếu gói triển khai thi hành, cơ quan thực thi dễ chọn phương án an toàn là dừng hoặc kéo dài thời gian xử lý. Thị trường sẽ trả giá bằng ùn ứ và lãng phí chi phí tuân thủ tăng đột ngột.
Thứ năm, thiết lập cơ chế hậu kiểm sau ban hành, coi chi phí tuân thủ là dữ liệu quản trị. Văn bản có hiệu lực ngay cần được hậu kiểm sớm hơn văn bản thông thường. Sau 6-12 tháng, cơ quan ban hành nên công bố một báo cáo ngắn về các điểm vướng, số lượng phản ánh, thời gian xử lý trung bình và nhóm chi phí tuân thủ phát sinh. Báo cáo không cần dài, nhưng phải trả lời được câu hỏi cốt lõi là “hiệu lực ngay” có giúp mục tiêu quản lý đạt nhanh hơn hay chủ yếu tạo ách tắc và làm tăng chi phí.
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực ngay là có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, để hạn chế cú sốc tuân thủ đối với người dân và doanh nghiệp, khâu lập quy cần được siết chặt kỷ luật và khâu tổ chức thi hành cần được củng cố năng lực.
Điểm tích cực là khi phát sinh ách tắc, Chính phủ và các cơ quan liên quan đã kịp thời vào cuộc, chỉ đạo phối hợp và hướng dẫn thực hiện. Từ phản ứng sớm đó, nếu việc ban hành được tăng cường giải trình, thiết kế điều khoản chuyển tiếp rõ ràng và chuẩn bị đầy đủ điều kiện triển khai, rủi ro tuân thủ sẽ được kiểm soát tốt hơn. Khi đó, mục tiêu quản lý vẫn được bảo đảm, trong khi doanh nghiệp và chuỗi cung ứng có thêm dư địa ổn định để thích ứng và duy trì vận hành.
(*) Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TPHCM.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của cơ quan nơi tác giả đang công tác.
(1) https://baochinhphu.vn/xu-ly-mot-so-vuong-mac-khi-trien-khai-nghi-dinh-46-2026-nd-cp-ve-an-toan-thuc-pham-102260201074139925.htm
(2) https://nongnghiepmoitruong.vn/tay-ninh-go-nut-that-nghi-dinh-46-khoi-thong-chuoi-cung-ung-san-d796045.html







