(KTSG) - Có những từ, chữ rất đơn giản, tưởng chừng ai cũng hiểu. Nhưng mọi người lại đang hiểu theo một hay nhiều cách khác nhau, trong các văn bản luật hay các cam kết thương mại lớn nhỏ, dẫn đến những thiệt hại hay tổn thất không đáng có. Khó có thể thống kê các thiệt hại như vậy, nhưng ở mảng thực phẩm tiêu dùng tại Việt Nam và thế giới, đó lại là sự lãng phí rất lớn.
- Giá thực phẩm tăng nhanh, gây sức ép lên người tiêu dùng toàn cầu
- Thực phẩm sạch khó tiếp cận người tiêu dùng
Ngày cuối cùng của năm. H sững sờ khi thấy toàn bộ các voucher trên ứng dụng của tập đoàn khách sạn A. hoàn toàn biến mất. Mất ba năm và phải chi một số tiền “đắt xắt ra miếng” để thăng hạng platinum thì số voucher này - gồm phiếu bánh sinh nhật, ăn buffet, phiếu giảm giá - có giá trị không nhỏ.

Theo cách hiểu của anh chàng người Sài Gòn thì “valid until December 31, 2025” có nghĩa là các voucher sẽ hết hạn sử dụng vào đúng đêm 31-12, sau thời khắc giao thừa sang năm mới. Đây cũng là cách hiểu của phần đông mọi người. Nhưng chuỗi A. đã hiểu theo cách của họ và một số người - hệ thống của chuỗi này đã xóa sạch các voucher vào khuya 30, lúc vừa chuyển sang ngày 31.
Trên các trang du lịch, không thiếu các câu chuyện tương tự, nhưng nhiều người gặp cảnh dở khóc dở cười.
Visa Mỹ thường có hạn một năm, nhưng thời gian thực ở (duration of stay) lại phụ thuộc vào cánh cửa hải quan (CBP) ở cửa khẩu. Chẳng hạn, một du khách có hạn lưu trú đến ngày 10-1-2026. Khi quay lại Mỹ từ Mexico đúng ngày này, anh suýt bị cấm nhập cảnh vì vé máy bay về Việt Nam ghi ngày 11-1-2026.
Với CBP, chênh lệch dù chỉ một phút sau nửa đêm cũng là cư trú bất hợp pháp. Anh chỉ được thông quan khi chứng minh rằng sẽ làm thủ tục và rời đất Mỹ trước 23:59 ngày 10-1-2026.
Ba cách ghi “oái ăm”
Có đến ba cách ghi về thời hạn như vậy, bao gồm “valid until” - như hiểu nhầm ở trên, “valid through” và “expires on”. Mỗi cách diễn đạt mang hàm ý khác nhau, có thể gây rắc rối cho người dùng và cả doanh nghiệp trong soạn thảo hợp đồng.
“Valid until” hay “valid till” là thuật ngữ gây nhiều tranh cãi nhất, tùy thuộc vào văn bản chúng ta đang cầm trên tay là gì.
Quy tắc của visa Schengen hay Mỹ ghi rõ: Ngày ghi sau chữ until là ngày cuối cùng mà người sở hữu visa được phép lưu trú(1). Bạn phải rời đi trước nửa đêm ngày hôm đó. Tức đây là câu chuyện của anh khách từ Mexico nhập cảnh vào Mỹ và bay trở về Việt Nam hôm 10-1-2026.
Sự mơ hồ về ngôn ngữ còn gây lãng phí ngay trong tủ lạnh của mỗi gia đình với hơn 1 tỉ bữa ăn bị lãng phí mỗi ngày trên toàn cầu. Chương trình môi trường Liên hiệp quốc kêu gọi chuẩn hóa và giáo dục người tiêu dùng hiểu rõ hơn về nhãn ghi để giảm lãng phí thực phẩm. Oái ăm thay doanh nghiệp cũng gặp khó với việc hiểu rõ và thực hiện đúng các ghi hạn sử dụng, còn với người dùng đây là một “ma trận”.
Trong tiếp thị, phần lớn các doanh nghiệp đều muốn bán thêm hàng nên có phần “rộng rãi hơn”. Nếu voucher ghi “valid until December 31” thì sẽ được dùng đến giây phút cuối cùng khi cửa hàng đóng cửa trong ngày 31. Tuy vậy, bộ phận IT thường “thích” cắt hệ thống lúc khi đồng hồ vừa sang 00:00 ngày 31. Đó là trường hợp của chuỗi A.
Trong các hợp đồng chặt chẽ, luật sư thường tránh dùng “valid until” mà cụ thể hơn như “valid until 11:59pm” hoặc “valid up to and including”…
“Valid through” là thuật ngữ an toàn nhất và mang nghĩa rộng nhất. Từ điển Cambridge định nghĩa rõ ràng. Giống như cách “up to and including”, “valid through” có hạn đến 11:59pm, tức đến giây phút cuối cùng trước khi bước sang ngày mới(2).
“Expires on” mang ý nghĩa là vào ngày đó, văn bản hay thỏa thuận sẽ chấm dứt hiệu lực. Cụm này có ý nghĩa mơ hồ, dễ gây tranh chấp như “valid until”, bởi hợp đồng luôn là những ràng buộc pháp lý chặt chẽ. Trên các diễn đàn luật, giới luật sư luôn khuyên nên định nghĩa rõ giờ cụ thể vì “expires on” rất dễ gây tranh chấp(3).
Như vậy, sự thiếu vắng một mốc giờ cụ thể, chẳng hạn 23:59 hay 00:00, chính là sự lệch pha hay cái bẫy chết người. Đầu tiên, người dùng luôn có xu hướng hiểu theo nghĩa bao hàm (hết ngày đó), trong khi hệ thống kỹ thuật hoặc cơ quan hành pháp thường “thích” sớm hơn, đến đúng ngày đó là chấm dứt hoặc hết hiệu lực. Hậu quả thực tế là thiệt hại tài chính (mất voucher) và công dân có thể phạm luật (nhập cảnh, lưu trú bất hợp pháp).
“Ma trận” từ ngữ trong ngành thực phẩm
Sự mơ hồ về ngôn ngữ không chỉ làm khó chúng ta trên giấy tờ, mà còn gây lãng phí ngay trong tủ lạnh của mỗi nhà. Có ít nhất sáu loại hạn sử dụng được ghi bằng tiếng Anh, nhằm bảo đảm an toàn và tránh lãng phí thực phẩm. Sáu loại này được chia thành ba nhóm có mục đích rõ rệt, nhằm bảo đảm chất lượng, an toàn và thuận tiện trong quản lý kho hàng, kệ hàng.

Ảnh: Nikkei Asia
Hiểu rõ và thực hiện đúng các ghi hạn sử dụng là một thách thức với doanh nghiệp. Với người tiêu dùng, đó là một “ma trận”. Báo cáo chỉ số lãng phí thực phẩm của Chương trình môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) năm 2021 chỉ rõ hộ gia đình là nơi lãng phí thực phẩm nhiều nhất, với 90% vứt bỏ thực phẩm trước hạn, chiếm 61% tổng lượng thực phẩm bị lãng phí toàn cầu.
Nguyên nhân chính là người tiêu dùng hiểu sai về các nhãn ghi ngày tháng (nhầm lẫn giữa hạn an toàn Use By và hạn chất lượng Best Before), dẫn đến việc vứt bỏ thực phẩm vẫn còn ăn được. Báo cáo năm 2024 của UNEP tiếp tục khẳng định lại các vấn đề trên và đưa ra con số báo động hơn: thế giới lãng phí hơn 1 tỉ bữa ăn mỗi ngày!
UNEP kêu gọi chuẩn hóa và giáo dục người tiêu dùng hiểu rõ hơn về các nhãn này để giảm lãng phí thực phẩm.
Ghi nhãn ở Việt Nam
Tại Việt Nam, việc ghi hạn sử dụng thực phẩm trong năm 2026 tuân thủ Nghị định 43/2017/NĐ-CP và bổ sung bằng Nghị định 111/2021/NĐ-CP và các quy định mới về ghi nhãn dinh dưỡng có hiệu lực từ ngày 1-1-2026.
Hạn sử dụng được ghi bằng tiếng Việt, có thể kèm theo tiếng Anh. Thông thường, nhãn gồm các thông tin chính: (i). Hạn sử dụng (HSD): Tương đương expiration date hay expiry date (EXP) trong tiếng Anh. Đây là mốc thời gian cuối cùng mà thực phẩm vẫn giữ được các đặc tính chất lượng và đảm bảo an toàn trong điều kiện bảo quản bình thường. (ii). Sử dụng đến ngày/Sử dụng tốt nhất trước ngày: Thường dùng cho các loại thực phẩm tươi sống hoặc dễ hỏng. (iii). Ngày sản xuất (NSX): Bắt buộc phải ghi song song với HSD để người dùng đối chiếu khoảng thời gian lưu thông của sản phẩm.
Một số siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi hay chuỗi cửa hàng bánh lớn ở các thành phố lớn của Việt Nam thực hiện giảm giá hay tặng kèm các mặt hàng sử dụng đến ngày/sử dụng tốt nhất trước ngày. Một số nơi sẽ tặng số thực phẩm này cho ngân hàng thực phẩm hay các bếp ăn thiện nguyện. Nhưng nghiêm túc thực hiện việc dán nhãn này hay không lại là câu chuyện khác, bởi người tiêu dùng đôi lúc vẫn có thể dễ dàng phát hiện những cái nhãn cũ dán chồng, đè lên các nhãn trước.
Còn về phía người tiêu dùng, ý thức hay thói quen tiết kiệm đúng mức cần một thời gian dài để thay đổi hay hình thành. Cách giáo dục người dùng đọc hiểu các thông tin ghi nhãn, như UNEP đề nghị, luôn nằm trong tầm tay của doanh nghiệp Việt Nam. “Tuy vậy, điều này có lẽ sẽ phụ thuộc vào sự quan tâm đến trách nhiệm xã hội hay thực hiện ESG (môi trường, xã hội và quản trị) của doanh nghiệp chế biến thực phẩm”, chuyên gia tiêu chuẩn và chất lượng Bùi Phước Hòa thuộc Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao nói.
Thị trường “ngon ăn”
Giải quyết “nỗi đau”, thiệt hại của hiểu sai lệch từ ngữ trong mảng F&B cũng là thị trường mênh mông mới. Ở Trung Quốc và nhiều nước châu Á lân cận, thị trường “hàng cận date” trở thành ngành kinh doanh tỉ đô. Nhiều công ty đã tổ chức kênh thu mua và phân phối nhanh và hiệu quả lượng hàng chưa bán kịp và sắp đến hạn. Đó cũng là trận địa cho các công ty khởi nghiệp.
Ở Thái Lan, ứng dụng Yindii ra đời năm 2023, hiển thị các cơ sở có thực phẩm chưa bán hết, giảm giá tới 80%. Người dùng thanh toán và sau đó đến cửa tiệm lấy đồ hoặc dùng dịch vụ giao nhận… Startup không chỉ làm với tiệm bánh nhỏ lẻ mà bắt tay với các “ông lớn” như chuỗi siêu thị Tops, khách sạn Sofitel, Flash Coffee... giúp nâng tầm nhận diện thương hiệu là “giải cứu đồ ngon” chứ không phải “đồ ôi thiu”.
Thành công không chỉ ở Bangkok, Yindii đã mở rộng sang Hồng Kông sau khi gọi vốn thành công. Có thể kể thêm các mô hình độc đáo tương tự Yindii như Treatsure và Just Dabao ở Singapore, hay Surplus ở Indonesia, hoặc Rescu tại Malaysia. Tại Hồng Kông, Yindii đã nhanh chóng thâu tóm đối thủ Phenix từ châu Âu để mở rộng thị phần và cạnh tranh với startup địa phương Chomp.
Sự chính xác trong ngôn ngữ, rốt cuộc, không chỉ giúp tiết kiệm tiền bạc, mà còn mở ra những chân trời kinh doanh mới. Ở Việt Nam, đó vẫn là mảnh đất không bóng người, dù rằng đã có foodbank và các bếp thiện nguyện.
“Ma trận” nhãn thực phẩm tiếng Anh
- Chất lượng (Best if Used By, Best Before, BBE): Đây là cam kết thực phẩm giữ hương vị và kết cấu tối ưu trước mốc này, sau đó thực phẩm vẫn an toàn để tiêu thụ dù có thể bớt ngon, theo trang của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA).
- An toàn (Use By): Là “giới hạn đỏ” cho thực phẩm dễ hỏng. Tuyệt đối không ăn sau ngày này để tránh ngộ độc. Riêng Expiration Date (EXP) là hạn tuyệt đối (thường cho sữa công thức), sau ngày này sản phẩm mất giá trị dinh dưỡng hoặc gây hại, theo Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA).
- Quản lý (Sell-By, Freeze-By): Hướng dẫn nhà bán lẻ luân chuyển hàng hoặc nhắc người dùng cấp đông để giữ chất lượng, không đồng nghĩa với việc sản phẩm đã hỏng ngay lập tức, theo Cơ quan Y tế quốc gia Anh (NHS).
(1) https://home-affairs.ec.europa.eu/policies/schengen/visa-policy_en
(2) https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/through
(3) https://law.stackexchange.com/questions/60982/is-a-contract-valid-on-its-expiration-date






