(KTSG) - Các số liệu kinh tế - xã hội tháng 5 và năm tháng đầu năm 2026 cho thấy kinh tế Việt Nam đang chuyển động nhanh, nhưng tốc độ nhanh chưa đồng nghĩa với nền tảng đã đủ bền. GDP quí 1-2026 tăng 7,83%(1). Thách thức của mục tiêu tăng trưởng rất cao không chỉ là “tăng thêm bao nhiêu”, mà là “tăng bằng động lực nào”.
GDP theo phương pháp chi tiêu phụ thuộc tiêu dùng cuối cùng, tích lũy gộp tài sản và chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Xét về tiêu dùng cuối cùng, chỉ tiêu này liên quan đến tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Trong năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 3.185.000 tỉ đồng, tăng 11,2%(2); loại trừ yếu tố giá vẫn tăng 6,1%. Nhưng CPI bình quân năm tháng tăng 4,31%, lạm phát cơ bản tăng 4,04%, còn CPI riêng tháng 5 tăng 5,6% so với cùng kỳ (hình 1). Điều này cho thấy sức mua danh nghĩa tăng, nhưng phần tăng thực tế bị bào mòn bởi giá cả. Khi chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn thu nhập khả dụng của một bộ phận dân cư, tiêu dùng sẽ chuyển từ “mở rộng” sang “phòng thủ”: người dân vẫn chi tiêu nhưng thận trọng hơn.
Trong cấu trúc tiêu dùng cuối cùng, không thể bỏ qua kinh tế phi chính thức, kinh tế hộ, kinh tế vỉa hè và kinh tế đêm. Theo ILOSTAT(3), tỷ lệ lao động phi chính thức của Việt Nam năm 2024 vẫn khoảng 64,6% tổng việc làm. Vì thế, quản lý vỉa hè nếu chỉ theo logic “dẹp bỏ để thông thoáng” có thể tạo ra chi phí sinh kế lớn hơn lợi ích trật tự ngắn hạn. Nếu quản trị theo hướng dung hợp - vừa bảo đảm trật tự, an toàn, vệ sinh, mỹ quan; vừa thừa nhận chức năng sinh kế và văn hóa đô thị, kinh tế vỉa hè có thể thành một phần của tiêu dùng nội địa và kinh tế đêm có kiểm soát(4).


Trụ cột thứ hai là tích lũy gộp tài sản. Chỉ tiêu này tương đương vốn đầu tư, tuy nhiên, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước năm tháng đầu năm 2026 đạt 254.100 tỉ đồng, chỉ bằng 24% kế hoạch năm và tăng 11,2% so với cùng kỳ (hình 2). Cùng thời gian, vốn FDI đăng ký đạt 24,81 tỉ đô la Mỹ, tăng 34,9%; vốn FDI thực hiện đạt 9,75 tỉ đô la Mỹ, tăng 9,6%.
Đây là lực đẩy quan trọng cho hạ tầng, công nghiệp và niềm tin đầu tư. Tuy nhiên, đầu tư công không nên được hiểu như “động cơ chính” có thể thay thế việc cải thiện năng suất. Nếu tăng nhanh nhưng dàn trải, chậm giải phóng mặt bằng, đội chi phí, hoặc không kéo được đầu tư tư nhân đi cùng, nó có thể tạo áp lực lên nợ công, lạm phát và nghĩa vụ tương lai nhiều hơn là năng lực sản xuất mới.
Do đó, tiêu chí của đầu tư công hiện nay không chỉ là giải ngân nhanh, mà phải là giải ngân có hiệu quả lan tỏa. Dòng vốn ngân sách cần ưu tiên các dự án làm giảm chi phí giao dịch của nền kinh tế như logistics, kết nối vùng, hạ tầng dữ liệu, năng lượng sạch và chuyển đổi số dịch vụ công. Mỗi đồng đầu tư công nên được đo bằng khả năng kéo thêm đầu tư tư nhân, giảm chi phí tuân thủ và nâng năng suất doanh nghiệp nội địa.
Trụ cột thứ ba là xuất nhập khẩu ròng. Năm tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 445,12 tỉ đô la Mỹ, tăng 25%; xuất khẩu tăng 19,5%, nhập khẩu tăng 30,8%, dẫn tới nhập siêu hàng hóa 13,8 tỉ đô la Mỹ (hình 3). Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 92,6 tỉ đô la Mỹ, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 69,6 tỉ đô la Mỹ. Đáng chú ý, tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,76 tỉ đô la Mỹ, trong khi khu vực FDI xuất siêu 6,96 tỉ đô la Mỹ.
Nhập siêu trong bối cảnh nhập nhiều tư liệu sản xuất không nhất thiết là xấu, bởi nó có thể phản ánh chu kỳ mở rộng sản xuất. Nhưng nếu nhập khẩu đầu vào tăng nhanh hơn xuất khẩu, trong khi giá trị gia tăng nội địa thấp, nền kinh tế sẽ tiếp tục mắc vào thế gia công. Điểm nghẽn ở đây không chỉ là thương mại, mà là công nghiệp hỗ trợ, tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ, quản trị chuỗi cung ứng và sức khỏe của doanh nghiệp tư nhân trong nước.
Còn về chi tiêu và thu ngân sách, lũy kế năm tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.339.700 tỉ đồng, bằng 53% dự toán năm và tăng 15,3%; tổng chi đạt 843.700 tỉ đồng, bằng 26,7% dự toán năm. Thu ngân sách vượt tiến độ là tín hiệu kỷ luật tài khóa đáng ghi nhận, nhưng thu nhanh không phải lúc nào cũng là tin vui tuyệt đối.
Cần phân biệt nguồn thu bền vững từ sản xuất - kinh doanh với các khoản thu có tính chu kỳ như đất đai, tài sản, tài chính, hoặc những đợt thu dồn. Nguyên tắc phù hợp là “kỷ luật nhưng nuôi dưỡng nguồn thu”: thu đúng, thu đủ, đồng thời giảm chi phí tuân thủ, ổn định chính sách, đơn giản hóa thanh tra - kiểm tra và mở rộng cơ sở thu bằng chính thức hóa tự nguyện. Với hộ kinh doanh và lao động phi chính thức cần lộ trình chuyển đổi mềm: đăng ký dễ, nghĩa vụ nhẹ, lợi ích rõ, không gian kinh doanh hợp pháp và tiếp cận được các dịch vụ tài chính - xã hội cơ bản.
Từ bốn vấn đề trên, bức tranh kinh tế không nên được mô tả bằng hai gam màu đối lập “sáng” hoặc “xám”. Đúng hơn, nền kinh tế đang có tốc độ, nhưng các động cơ chưa thật cân bằng: công nghiệp tăng nhưng phụ thuộc đầu vào nhập khẩu; tiêu dùng tăng nhưng lạm phát bào mòn sức mua; đầu tư công tăng nhưng hiệu quả lan tỏa phải được kiểm định; thu ngân sách tốt nhưng cần nuôi dưỡng khu vực tạo của cải thực. Tăng trưởng cao vì vậy phải được theo đuổi bằng nguyên tắc cân bằng thích nghi: không hy sinh ổn định vĩ mô để lấy tốc độ ngắn hạn, cũng không vì sợ rủi ro mà làm nghẽn các dòng chảy kinh tế sống động trong dân cư và doanh nghiệp.
Một số định hướng chính sách có thể được cân nhắc:
Thứ nhất, ưu tiên kiểm soát lạm phát trong vùng 4-4,5%, nhất là nhóm hàng thiết yếu và giá dịch vụ công có tác động dây chuyền. Chính sách tiền tệ cần thận trọng với tín dụng đại trà, nhưng linh hoạt với tín dụng sản xuất, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ và chuyển đổi xanh.
Thứ hai, đầu tư công cần chuyển từ tư duy “tăng tổng cầu” sang “giảm chi phí nền kinh tế”, lấy năng suất và hiệu quả xã hội làm thước đo.
Thứ ba, cần thiết kế lại quản trị kinh tế vỉa hè, kinh tế hộ và kinh tế đêm theo hướng nhất nguyên dung hợp - cân bằng: không buông lỏng, nhưng cũng không cực đoan hành chính. Chính quyền đô thị có thể quy hoạch tuyến, khung giờ, chuẩn vệ sinh, an toàn cháy nổ, nhận diện số và phí sử dụng không gian công cộng ở mức hợp lý; đổi lại, người kinh doanh được bảo vệ quyền sinh kế hợp pháp và có cơ hội nâng cấp dần lên hình thức chính thức.
Thứ tư, cải cách thể chế cần bám sát tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân: giảm định kiến với doanh nhân, bảo vệ quyền tài sản, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết, ưu tiên tín dụng và mua sắm công cho doanh nghiệp có năng lực đổi mới, tham gia chuỗi cung ứng nội địa.
Cuối cùng, thúc đẩy tiêu dùng nội địa không nên chỉ là lời kêu gọi “người Việt dùng hàng Việt”. Điều quyết định là hàng Việt phải tốt hơn, sạch hơn, xanh hơn, minh bạch hơn và thuận tiện hơn. Khi chất lượng hàng hóa, niềm tin thị trường, thương mại số, truy xuất nguồn gốc và văn hóa tiêu dùng bền vững được cải thiện, tiêu dùng nội địa sẽ thành động lực thực chất, không phải gói kích cầu tạm thời. Tăng trưởng hai con số mà chúng ta đang hướng đến phải là kết quả của một nền kinh tế có nội lực mạnh hơn, doanh nghiệp tư nhân khỏe hơn, người dân tiêu dùng tự tin hơn và Nhà nước kiến tạo thông minh hơn.
(*) Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội
(**) Viện Quản trị và công nghệ FSB, trường Đại học FPT
(1) Cục Thống kê/Báo điện tử Chính phủ: Tình hình kinh tế - xã hội quí 1-2026. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/04/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-i-nam-2026/
(2) Cục Thống kê/Báo điện tử Chính phủ: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và năm tháng đầu năm 2026. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-thang-5-va-5-thang-dau-nam-2025-11926060310590777.htm
(3) ILOSTAT: Viet Nam country profile, informal employment rate 2024. https://ilostat.ilo.org/data/country-profiles/vnm/
(4) Khúc Văn Quý. (2026). Kinh tế vỉa hè nhìn từ nguyên lý nhất nguyên. https://thesaigontimes.vn/kinh-te-via-he-nhin-tu-nguyen-ly-nhat-nguyen/






