Thứ Ba, 24/02/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Tạm dừng Nghị định 46, doanh nghiệp vẫn chưa hết băn khoăn

Trung Chánh

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG Online) - Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 được ban hành để “siết chặt” an toàn thực phẩm, nhưng thực tế lại tạo ra hàng loạt ách tắc cho doanh nghiệp. Quyết định tạm dừng có hiệu lực đến ngày 15-4-2026 giúp “hạ nhiệt” trước mắt, song điều doanh nghiệp chờ đợi là cơ quan quản lý sẽ điều chỉnh theo hướng nào?

Hàng hoá nhập khẩu ách tắc do vướng quy định Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13. Ảnh: NNMT/Chinhphu.vn

Nghị định 46/2026/NĐ-CP của Chính phủ “quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm” được ban hành và có hiệu lực ngay từ ngày 26-1-2026. Tiếp đó, Nghị quyết số 66.13/2026/NQ-CP “quy định về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm” được ban hành ngày 27-1-2026 và cũng có hiệu lực ngay.

Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết việc ban hành hai văn bản nêu trên là nỗ lực lớn của Chính phủ trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hướng đến siết chặt các lỗ hổng và tăng cường trách nhiệm trong sản xuất, phân phối thực phẩm.

Tuy nhiên, quá trình triển khai đã phát sinh nhiều khó khăn, từ thời gian chuyển tiếp quá ngắn, quy trình kiểm tra phức tạp đến việc thiếu hướng dẫn cụ thể trong thực thi. Hệ quả, hàng hóa bị ách tắc trên thực tế, buộc Chính phủ phải ban hành nghị quyết tạm dừng hiệu lực hai văn bản nêu trên đến ngày 15-4-2026.

Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn áp dụng

Tại hội thảo “Tháo gỡ vướng mắc trong triển khai Luật An toàn thực phẩm” do VCCI tổ chức mới đây, ông Nguyễn Hồng Uy, Trưởng nhóm kỹ thuật Tiểu ban Thực phẩm và Dinh dưỡng của Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), cho rằng nguyên liệu, phụ gia, bao bì, dụng cụ tiếp xúc với thực phẩm là các yếu tố phục vụ sản xuất nội bộ, được nhập vào nhà máy để tạo ra thành phẩm. Trong khi đó, thành phẩm trước khi đưa ra thị trường phải trải qua bước kiểm tra an toàn. “Vậy quy định kiểm tra những thứ dùng cho sản xuất nội bộ để làm gì?”, ông đặt vấn đề.

Về truy xuất nguồn gốc, theo ông Uy, EuroCham hoàn toàn ủng hộ, nhưng Nghị định 46 lại quy định tất cả thông tin về sản phẩm, nguyên liệu, bán thành phẩm, bao bì, đầu ra… phải được đưa vào dữ liệu doanh nghiệp và kết nối với hệ thống dữ liệu của cơ quan quản lý Nhà nước. Theo ông, quy định này tạo ra hai rủi ro lớn.

Thứ nhất, toàn bộ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp có nguy cơ bị lộ- điều mà các doanh nghiệp lớn đặc biệt lo ngại; thứ hai, doanh nghiệp nhỏ gần như không đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu.

Với Nghị quyết 66.13, theo ông Uy, vướng mắc lớn nhất nằm ở thủ tục đăng ký thực phẩm. “Thủ tục đăng ký sản phẩm trở nên phức tạp hơn rất nhiều, yêu cầu hồ sơ và thời gian thẩm định tăng lên nhiều lần”, ông nêu thực trạng, đồng thời, đặt vấn đề liệu cấp tỉnh có đủ chuyên môn để thẩm định hồ sơ, từ phương pháp kiểm nghiệm đến quy trình sản xuất hay không?

Ông Uy dẫn lại câu chuyện sữa dê Danlait cách đây hơn 10 năm, cho thấy doanh nghiệp này phá sản do kết quả kiểm nghiệm sai hàm lượng đạm từ Viện Pasteur Nha Trang, khiến hàng chục tỉ đồng hàng hóa không thể tiêu thụ. “Viện chuyên ngành như Pasteur Nha Trang còn gặp khó như vậy, liệu cấp tỉnh có làm nổi không?”, ông đặt câu hỏi.

Vị trưởng nhóm kỹ thuật của EuroCham cũng cho rằng các vụ sữa giả bị phát hiện gần đây có hồ sơ được “làm đẹp long lanh”. “Người làm giả thì làm hồ sơ rất đẹp, còn doanh nghiệp làm thật chưa chắc đã có hồ sơ đẹp”, ông nói và đặt vấn đề việc “đọc” hồ sơ có thực sự phản ánh đúng bản chất hay không?

Từ đó, ông Uy cho rằng cần tăng cường hậu kiểm thay vì tập trung tiền kiểm. Việc yêu cầu toàn bộ sản phẩm đã được cấp số đăng ký trong tám năm qua theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP phải đăng ký lại là sự lãng phí rất lớn. Điều này cũng đồng nghĩa, toàn bộ công sức phê duyệt trước đây của cơ quan quản lý bị phủ nhận. “Chúng ta phủ nhận chính mình để làm gì?”, ông nêu câu hỏi, đồng thời, băn khoăn về việc loại bỏ các phòng kiểm nghiệm quốc tế khỏi hệ thống kiểm nghiệm thực phẩm do quy định mới gây ra.

Ở góc nhìn khác, bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Chủ tịch Hiệp hội Thực phẩm Minh bạch (AFT), dẫn câu chuyện một doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng organic từ Ấn Độ qua sân bay Nội Bài, có đầy đủ chứng nhận hữu cơ và lịch sử xuất khẩu nhiều năm vào Việt Nam, nhưng vẫn bị “kẹt” tại hải quan do yêu cầu “phải có giấy chứng nhận thực phẩm do cơ quan nước xuất khẩu cấp”.

Theo bà, quy định nêu trên gây cản trở vì nhiều quốc gia không cấp loại giấy tờ này. “Dù có chứng nhận hữu cơ, hàng hóa vẫn bị yêu cầu lấy mẫu kiểm nghiệm, nhưng kiểm nghiệm cái gì thì không có hướng dẫn cụ thể. Điều này, khiến phòng kiểm nghiệm cũng không thể triển khai”, bà nói.

Đồng quan điểm, bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA), cho biết nhiều quốc gia không cấp Health Certificate (chứng nhận y tế) cho gia vị khô, dù sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. “Muối hồng Himalaya nhập từ Pakistan chẳng hạn, họ cũng đâu cấp Health Certificate”, bà dẫn chứng.

Trong khi đó, Việt Nam lại yêu cầu bắt buộc cơ quan nước xuất khẩu phải chứng nhận mới được thông quan. “Vậy, doanh nghiệp phải làm sao, và cơ quan nhà nước sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thế nào?”, bà Liên đặt vấn đề.

Thông quan hàng hoá trở lại bình thường sau khi Chính phủ tạm ngưng áp dụng Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 đến ngày 15-4-2026. Tuy nhiên, các rào cản cần được giải quyết. Ảnh: Quốc Hồng/Chinhphu.vn

Tiếp cận thông lệ quốc tế trong quản lý an toàn thực phẩm

Theo ông Uy của EuroCham, quốc tế không quản lý an toàn thực phẩm theo hình thức đăng ký từng sản phẩm. “Một mớ rau hay con cá đem đi kiểm nghiệm chưa chắc đã phản ánh đúng thực tế. Bởi lẽ, người sản xuất dùng thuốc trừ sâu hoạt chất A, nhưng chúng ta lại kiểm hoạt chất B, thì cũng không phát hiện được gì”, ông dẫn chứng.

Theo đó, quốc tế quản lý theo hệ thống, đồng bộ và dựa trên tiêu chuẩn rõ ràng, từ sản xuất, nuôi trồng đến chế biến. “Nguyên liệu đầu vào sạch, thì thành phẩm mới sạch- đó là cách quản lý từ trang trại đến bàn ăn”, ông nói.

Trên cơ sở đó, quản lý theo rủi ro được áp dụng, với HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points) là tiêu chuẩn quốc tế phổ biến. “Đây là hệ thống phân tích mối nguy và các điểm kiểm soát trọng yếu, chứ không thể dàn trải như cách làm hiện nay của Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13”, ông nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, bà Minh của AFT, cho rằng kiểm soát an toàn thực phẩm thông qua phân tích mối nguy là cốt lõi của HACCP. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn Codex Alimentarius, tiêu chuẩn do Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên Hiệp quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xây dựng từ năm 1963, là cơ sở dữ liệu toàn diện về an toàn thực phẩm, được cập nhật liên tục và được nhiều quốc gia áp dụng.

Theo bà Minh, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam ký kết đều lấy Codex làm chuẩn chung. “Thay vì áp dụng Codex, chúng ta lại đưa ra quy định riêng, vậy có cần thiết hay không?”, bà đặt vấn đề.

Bà Minh cũng cho rằng kiểm nghiệm không đại diện cho toàn bộ lô hàng, trong khi kiểm soát hệ thống từ nhà xưởng, trang thiết bị, máy móc đến quy trình mới là cách tiếp cận hiệu quả. “Đó chính là bản chất của HACCP”, bà nhấn mạnh, đồng thời, cho rằng nhiều quốc gia đã chọn HACCP làm chuẩn.

Từ những bất cập nêu trên, ông Uy đề xuất cần sửa Luật An toàn thực phẩm trước, sau đó mới ban hành nghị định hướng dẫn.

Việc sửa luật và nghị định trong thời gian tới, theo ông Uy, cần bám sát các nguyên tắc: thứ nhất, tuân thủ nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 68 với định hướng quản lý rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và cải cách thủ tục hành chính; thứ hai, tiếp cận theo thông lệ quốc tế, quản lý theo hệ thống từ trang trại đến bàn ăn. Đồng thời, đảm bảo các địa phương có đủ năng lực, chuyên môn và nguồn lực để thực thi, cùng thời gian chuyển tiếp hợp lý cho doanh nghiệp thích ứng.

Rõ ràng, với Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13, mấu chốt vẫn nằm ở việc rà soát sửa đổi, thậm chí thay thế để tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, chứ không chỉ dừng lại ở việc tạm ngưng hiệu lực.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới