(KTSG) - Nợ nhóm 5 của các ngân hàng tiếp tục tăng trong năm 2024. Con số này đang chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ của toàn hệ thống? Rủi ro mất vốn ở các khoản nợ nhóm 5 có thật sự đáng lo ngại? Và hệ quả là gì?
Bản chất nợ nhóm 5
Thủ tướng Chính phủ mới đây đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu thông tin nợ nhóm 5 của nhiều ngân hàng tăng mạnh, từ đó xem xét, thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, kiểm soát và hạn chế nợ xấu phát sinh, nâng cao chất lượng tín dụng. Cụ thể, nợ nhóm 5 của 27 ngân hàng công bố báo cáo tài chính quí 4-2024 đã tăng 39% so với đầu năm 2024, lên 118.915 tỉ đồng.
Với tổng dư nợ tín dụng toàn ngành đến cuối năm 2024 là hơn 15,6 triệu tỉ đồng, tăng 15,1% so với cuối năm 2023, phần nợ nhóm 5 nói trên đang chiếm tỷ trọng xấp xỉ 0,8% trong tổng dư nợ. Tuy nhiên, con số này chỉ mới tính đến số liệu của các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính, nên chưa phản ánh đầy đủ nợ nhóm 5 của toàn hệ thống, cũng như chỉ mới tính đến nợ nhóm 5 mà các ngân hàng đã chuyển trên sổ sách, chưa xét đến các khoản nợ tái cơ cấu, tiềm ẩn rủi ro mà nếu thực chuyển có thể cũng đã thuộc nhóm 5.
Theo quy định hiện nay, nợ nhóm 5 bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.
Khi nợ xấu nói chung và nợ nhóm 5 tiếp tục tăng lên, hệ quả trước mắt là làm cản trở động lực giảm lãi suất cho vay của hệ thống các tổ chức tín dụng. Bởi lẽ, các ngân hàng sẽ muốn duy trì một biên độ lãi suất đầu ra - đầu vào đủ cao để bù đắp rủi ro đã xảy ra cũng như có thể sẽ tiếp tục xảy ra trong giai đoạn kế tiếp.
Về cơ bản, nợ nhóm 5 được định nghĩa là nợ có khả năng mất vốn, nhưng cần biết rằng phần vốn bị mất nếu thật sự xảy ra sẽ nhỏ hơn nhiều so với con số đang hạch toán trên sổ sách, vì một phần trong số này đã được bảo đảm bởi các tài sản thế chấp. Theo đó, cần phải tính giá trị tài sản bảo đảm cho những khoản vay này hiện đang là bao nhiêu, từ đó mới có thể xác định phần vốn bị mất thật sự nếu chẳng may các ngân hàng không thể thu hồi hay xử lý được các khoản vay nhóm 5.
Ví dụ, một khoản vay 100 tỉ đồng, đã quá hạn từ 180 ngày trở lên, sẽ được ngân hàng chuyển sang nợ nhóm 5. Khoản vay này được bảo đảm bởi tài sản thế chấp hiện được định giá 70 tỉ đồng. Với quy định tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của nợ nhóm 5 là 100%, ngân hàng sẽ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể là 30 tỉ đồng, được tính theo công thức: (giá trị khoản vay trừ giá trị tài sản đảm bảo) nhân 100%. Khi không thể thu hồi được nợ từ khách hàng, ngân hàng phải bán tài sản thế chấp và thu hồi được giá trị còn lại là 70 tỉ đồng như đã nói, phần vốn ngân hàng mất đi chính là khoản dự phòng rủi ro tín dụng 30 tỉ đồng đã được trích lập.
Như vậy, tuy giá trị nợ nhóm 5 đang hạch toán phần nợ gốc là 100 tỉ đồng, nhưng phần vốn bị mất có khả năng chỉ là 30 tỉ đồng. Dĩ nhiên, trong trường hợp tài sản bảo đảm suy giảm giá trị, phần vốn bị mất sẽ tăng và ngược lại, khi tài sản bảo đảm (thường là bất động sản) tăng giá trị thì phần vốn bị mất sẽ giảm.
Chính vì vậy, có thể nói hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ chịu tác động đáng kể bởi diễn biến của thị trường bất động sản, vì phần lớn tài sản thế chấp cho hầu hết các khoản vay của các ngân hàng nói chung và nợ xấu nói riêng đều nằm dưới dạng bất động sản.
Hệ quả gì?
Với nợ nhóm 5 được các ngân hàng công bố trên báo cáo tài chính quí 4-2024, các khoản nợ này đã được trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 100%. Như vậy, kết quả lợi nhuận năm 2024 nói riêng và những năm qua nói chung của các ngân hàng đã phản ánh nguy cơ phần vốn bị mất, với điều kiện các ngân hàng định giá đúng các tài sản bảo đảm khi xác định mức dự phòng cần phải trích. Trên thực tế, dù nợ nhóm 5 của các ngân hàng tiếp tục tăng lên, nhưng lợi nhuận năm 2024 của nhiều ngân hàng vẫn ghi nhận tăng trưởng mạnh mẽ.
Trong thời gian tới, nếu các khoản nợ nhóm 5 này không thể thu hồi được, các ngân hàng sẽ tiến hành bán tài sản thế chấp và phần thiếu hụt cũng đã có nguồn dự phòng trích lập trước đó để xử lý rủi ro. Sau khi xử lý rủi ro, các khoản vay này sẽ được đưa ra ngoại bảng theo dõi, nên cũng không còn thể hiện trên bảng cân đối kế toán mà các ngân hàng công bố. Do đó, trong một số trường hợp, nợ nhóm 5 của một số ngân hàng sau đó giảm mạnh là nhờ vào chính sách mạnh tay xử lý rủi ro này.
Và như đã nói, với nợ nhóm 5 của 27 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính chỉ chiếm 0,8% tổng dư nợ toàn ngành, phần vốn bị mất sẽ thấp hơn nhiều, rủi ro hiện nay vẫn chưa thật sự quá lớn. Với biên độ lãi ròng (hệ số NIM) trong hoạt động cho vay của nhiều ngân hàng hiện phổ biến quanh 3%, phần lợi nhuận có được ở các khoản nợ tốt vẫn dư sức bù đắp được những rủi ro mất vốn xảy ra ở nợ nhóm 5.
Tuy nhiên, khi nợ xấu nói chung và nợ nhóm 5 tiếp tục tăng lên, hệ quả trước mắt là làm cản trở động lực giảm lãi suất cho vay của hệ thống các tổ chức tín dụng. Bởi lẽ, các ngân hàng sẽ muốn duy trì một biên độ lãi suất đầu ra - đầu vào đủ cao để bù đắp rủi ro đã xảy ra cũng như có thể sẽ tiếp tục xảy ra trong giai đoạn kế tiếp.
Một tín hiệu tích cực là nợ xấu của toàn ngành ngân hàng dường như đã đạt đỉnh trong quí 3-2024 đến nay, nhưng cũng cần lưu ý là nợ xấu chững lại nhưng nợ nhóm 5 có thể còn tăng lên trong thời gian tới, vì các khoản nợ nhóm 3 và nhóm 4 tiếp tục chuyển sang. Vì vậy, để xử lý nhanh nợ xấu nói chung và nợ nhóm 5 nói riêng, buộc phải đẩy nhanh tiến độ xử lý tài sản bảo đảm, nhưng điều này lại phụ thuộc vào công tác khởi kiện, thi hành án, cũng như khả năng thu giữ tài sản bảo đảm của khách hàng từ phía ngân hàng.
Chính vì vậy, gần đây Ngân hàng Nhà nước đã dự thảo Tờ trình Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng để luật hóa một số nội dung của Nghị quyết 42/2014/QH14, nhằm tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ về xử lý nợ xấu, với mục tiêu luật hóa các quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm; kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án; hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Nợ nhóm 5, định nghĩa là có nguy cơ mất vốn. Thực ra rất “tối nghĩa”, bởi không phản ánh đúng thực trạng nợ xấu. Đó là các khoản nợ xấu > 360 ngày, tuy nhiên các TCTD vẫn đang trong quá trình xử lý. Việc xử lý phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố pháp lý/ thị trường/ khách hàng… Trong điều kiện hiện nay, sau đại dịch Covid, hàng loạt doanh nghiệp bị phá sản, dừng hoạt động… Chưa kể hàng loạt tình huống sai phạm trên lĩnh vực bất động sản cũng để lại hậu quả rất lâu dài. Giải tỏa nợ xấu, không còn là bài toán của hệ thống ngân hàng nữa, mà phải xem đó là mục tiêu chiến lược ổn định tài chính – tiền tệ của quốc gia. NQ 42, mặc dù đã hết vai trò, nhưng lại không có chính sách nào có hiệu lực nhằm thay thế hoặc bổ sung, kể cả Luật TCTD 2024. Như vậy, sẽ rất khó để huy động nguồn lực tinh thần và vật chất, phục vụ cho tăng trưởng cao trong những năm sắp đến.
Khi nợ xấu phát sinh ( nhóm 3 –>5), ngân hàng gọi đó là RỦI RO KINH DOANH. Nhưng khi tiến hành các giải pháp xử lý để thu hồi nợ xấu, chính là thời điểm bắt đầu chuyển sang giai đoạn KINH DOANH RỦI RO. Nợ xấu, có tài sản bảo đảm hoặc chỉ có một phần, tính pháp lý như thế nào, định hướng giải quyết ra sao… là cả một loạt bài toán cần cân nhắc. Nếu không muốn nói đó là NGHỆ THUẬT KINH DOANH TIỀN TỆ. Nếu chỉ đơn thuần đốc thúc xử lý, có thể gây tổn thất nhiều mặt, cả nợ và người, nhưng nếu chấp nhận kéo dài thêm thời gian xử lý nhiều khi hiệu quả tổng hợp lại cao hơn hẳn… Đại án Tăng Minh Phụng là ví dụ sinh động. Cách đây gần 30 năm, hậu quả để lại số nợ xấu hàng ngàn tỷ đồng, với hàng loạt tài sản, đất đai… Ban đầu không ai dám nghĩ có cơ hội thu hồi đủ nợ, nhưng rốt cuộc khi thị trường bất động sản khởi sắc thì không những thu hồi đủ gốc và lãi, mà tiền vẫn còn dư nhiều !
Nhận xét sâu sắc, tinh tế và khoa học khi phân biệt giữa “rủi ro kinh doanh” và “kinh doanh rủi ro” trong xử lý nợ xấu. Phản ánh thực tế việc xử lý nợ xấu không chỉ đơn thuần là thu hồi vốn, mà còn là một quá trình đòi hỏi chiến lược, tầm nhìn và sự linh hoạt theo diễn biến thị trường.
Ví dụ về đại án Tăng Minh Phụng là minh chứng điển hình cho thấy thời gian và bối cảnh kinh tế có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả thu hồi nợ. Nếu chỉ đốc thúc nhanh chóng, có thể gây tổn thất lớn, nhưng nếu có chiến lược đúng đắn, việc xử lý nợ có thể mang lại kết quả tích cực hơn. Đây chính là “nghệ thuật kinh doanh tiền tệ”, nơi mà sự nhạy bén và khả năng dự báo thị trường đóng vai trò quan trọng không kém yếu tố pháp lý và quản lý rủi ro.
Bài toán đặt ra cho các ngân hàng hiện nay là làm sao cân bằng giữa tốc độ xử lý và hiệu quả thu hồi, đặc biệt khi thị trường bất động sản – nguồn tài sản thế chấp chủ yếu – đang có nhiều biến động. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có chính sách linh hoạt, kết hợp với các giải pháp pháp lý hiệu quả để tối ưu hóa lợi ích mà không làm tổn hại đến hệ thống tài chính.
Trong hoạt động của ngành ngân hàng nói chung và tài chính nói riêng, rủi ro kinh doanh là điều tất yếu, nhưng kinh doanh rủi ro mới là giai đoạn đòi hỏi sự khoa học nghệ thuật và chiến lược. Nếu xử lý nợ xấu một cách cứng nhắc, ngân hàng có thể có nhiều tổn thất về tài chính và kể cả về hình ảnh và xây dựng mối quan hệ. Ngược lại, nếu biết tận dụng diễn biến thị trường, định giá chính xác tài sản đảm bảo và lựa chọn thời điểm xử lý hợp lý, rủi ro có thể biến thành cơ hội. Do đó, thay vì chỉ nhìn vào con số nợ xấu, các ngân hàng cần áp dụng khoa học nghệ thuật tài chính để đánh giá đúng mức độ rủi ro thực tế và có chiến lược xử lý linh hoạt. Rủi ro kinh doanh là điều không thể tránh, nhưng kinh doanh rủi ro là một nghệ thuật cần đến tầm nhìn và bản lĩnh và nghệ thuật.
Nghệ thuật xây dựng hình ảnh, thương hiệu trong kinh doanh rủi ro mang lại lợi ích bền vững hơn cho ngân hàng, thay vì chỉ tập trung xử lý rủi ro.