Thứ Năm, 5/03/2026
24.5 C
Ho Chi Minh City
Html code here! Replace this with any non empty raw html code and that's it.

Phát triển xanh, đừng để doanh nghiệp đơn độc

Hồng Văn

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

(KTSG Online) - Khi các cơ quan quản lý yêu cầu doanh nghiệp phải phát triển xanh, thể hiện qua báo cáo phát thải, mua bán tín chỉ carbon, tái chế bao bì, kinh tế tuần hoàn, giảm thải nhựa dùng một lần ngày càng chặt chẽ, câu hỏi đặt ra là cộng đồng, từng cá nhân đã thực sự sống xanh hay chưa?

Nếu không, “xanh hóa” lối sống của từng cá nhân thì phát triển xanh sẽ có nguy cơ trở thành cuộc chơi một chiều, nơi doanh nghiệp gánh trách nhiệm thay cho xã hội. Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 kèm theo Quyết định 1658/QĐ-TTg năm 2021, đã đặt mục tiêu “xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững”. Đó là định hướng đúng nhưng giữa văn bản và đời sống vẫn có một khoảng cách lớn.

Tại nhiều diễn đàn, hội thảo, các doanh nghiệp bị yêu cầu phải đạt chuẩn ESG (Environmental, Social, Governance, tức môi trường, xã hội và quản trị), phải báo cáo phát thải, phải thực hiện Trách nhiệm của nhà sản xuất (EPR) qua tái chế... Thế nhưng, trong khi đó, không ít người tiêu dùng vẫn thản nhiên dùng túi nylon miễn phí, gọi đồ ăn dư thừa, bật điều hòa 18 độ rồi mở cửa, bật đèn điện vô tội vạ với tư duy “tôi dùng tôi trả tiền mà”.

Hiện nay, phát triển xanh ít nhiều đã có hành lang pháp lý trong khi lối sống xanh, tiêu dùng xanh, nếu có, chỉ mới ở mức độ tuyên truyền. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy lối sống xanh của cộng đồng không thể chỉ dựa vào mệnh lệnh hành chính chỉ với doanh nghiệp.

Tại Nhật Bản, Luật Tiết kiệm năng lượng nhiều năm qua đặt tiêu chuẩn hiệu suất cho thiết bị nhưng cùng với đó là việc thay đổi hành vi hộ gia đình. Các chương trình dán nhãn năng lượng, giúp người dân biết mình đang tiêu thụ bao nhiêu điện, phát thải bao nhiêu carbon.

Tại Đức, hệ thống kép về tái chế bao bì buộc doanh nghiệp đóng phí nhưng người dân phải phân loại rác tại nguồn, nếu không phân loại, rác không được thu gom. Cơ chế kinh tế và kỷ luật xã hội đi cùng nhau. Không có chuyện nhà sản xuất bắt buộc phải trả tiền tái chế còn người tiêu dùng lại cứ xả rác vô tội vạ.

Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay thực hiện theo mô hình Chính phủ thiết kế luật chơi cho phát triển xanh, doanh nghiệp thực thi trong chuỗi cung ứng còn người dân thay đổi hành vi, trách nhiệm được phân bổ tương đối cân bằng.

Ở Việt Nam, phong trào sống xanh không thiếu. Các nhóm cộng đồng như Xanh Việt Nam, Sài Gòn xanh, Hà Nội xanh vận động thanh niên dọn rác thải trên sông rạch, các mô hình “đổi rác lấy cây”, thu hồi pin thải tặng quà, hợp tác xã tái chế banner, lốp xe cũ… tạo cảm hứng tích cực. Tuy nhiên, đó vẫn là chỉ những “đốm sáng” mang tính tự phát.

Chúng ta dễ dàng đòi hỏi doanh nghiệp phải dùng bao bì sinh học, phải thu hồi rác điện tử, phải đầu tư công nghệ ít phát thải carbon. Thế nhưng, khi sản phẩm xanh có giá cao hơn 5 - 10% thì không ít người tiêu dùng quay lưng, khi siêu thị thu phí túi nylon, mạng xã hội lại ồn ào “bóc phốt”.

Doanh nghiệp, suy cho cùng, phản ứng theo tín hiệu thị trường và khung pháp lý. Nếu người tiêu dùng không sẵn sàng trả thêm cho sản phẩm bền vững, nếu hành vi tiêu dùng vẫn ưu tiên rẻ và tiện cho cá nhân, thì mọi yêu cầu “xanh hóa” chỉ làm tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh.

Lối sống xanh, như nhiều nghiên cứu chỉ ra, là tập hợp hành vi lặp đi lặp lại: ăn uống bền vững, giảm lãng phí thực phẩm, tái chế, tiết kiệm năng lượng. Đó là quyết định mỗi ngày của hàng triệu, triệu cá nhân. Nếu mỗi hộ gia đình giảm 10% điện tiêu thụ, lượng phát thải cắt giảm có thể tương đương một dự án năng lượng tái tạo quy mô trung bình. Thực tế cho thấy, thay đổi hành vi luôn khó hơn thay đổi quy định.

Vì vậy, thay vì chỉ tăng thêm nghĩa vụ bắt buộc cho doanh nghiệp, chính sách sống xanh nên minh bạch hóa chi phí môi trường. Hóa đơn điện, nước, xăng dầu nên cho thấy rõ lượng phát thải tương ứng, khi người dân nhìn thấy “phát thải” của mình, hành vi ít nhiều sẽ dần điều chỉnh. Kế đến là thiết kế cơ chế khuyến khích và chế tài song hành, chẳng hạn phân loại rác phải đi kèm kiểm tra và xử phạt, chống lãng phí thực phẩm cần luật hóa, không chỉ vận động suông.

Một nền kinh tế xanh, phát triển bền vững không thể xây trên nền tảng sản xuất xanh nhưng tiêu dùng “nâu”. Không thể đòi hỏi doanh nghiệp chạy nước rút để giảm phát thải trong khi cộng đồng vẫn đi bộ ngược chiều.

7 BÌNH LUẬN

  1. Xanh hóa, cần 2 điều kiện tối thiểu : Yêu mình/ Yêu nước. Có xanh hóa, cuộc sống mới trở nên trong lành, đất nước mới an toàn, con người mới có đầy đủ sức khỏe tốt. Bản thân mình không mạnh khỏe thì khó mà làm được gì tốt và lâu dài, cũng như không thể giúp ích gì cho gia đình và xã hội. Ủng hộ xanh hóa, chính là yêu nước, phải ưu tiên dùng sản phẩm xanh do chính doanh nghiệp trong nước sản xuất, vừa giúp doanh nghiệp phát triển bền vững, vừa tạo điều kiện cho kinh tế đất nước cất cánh, sánh vai cùng thiên hạ. Dĩ nhiên, doanh nghiệp cũng phải luôn đi tiên phong về “chất lượng/ an toàn/ giá cả” sản phẩm dịch vụ để thu hút người tiêu dùng. Một “cơ chế xanh hóa” luôn cần đến sự đồng hành của 3 lực lượng chủ chốt : Nhà nước/ Doanh nghiệp/ Người dân. Như thế mới chắc chắn thành công.

  2. Lối sống xanh đang được cổ vũ như một chuẩn mực đạo đức mới của đô thị hiện đại. Nhưng từ khẩu hiệu đến hành vi là một khoảng cách không nhỏ, nhất là trong bối cảnh thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn ở nhóm trung bình thấp, hạ tầng tái chế còn manh mún và chính sách khuyến khích chưa đủ mạnh.

    Thứ nhất, chi phí chuyển đổi không hề rẻ. Sản phẩm thân thiện môi trường thường có giá cao hơn 10–30% so với hàng thông thường. Túi sinh học, đồ gia dụng tiết kiệm điện, thực phẩm hữu cơ… đều đắt hơn lựa chọn phổ thông. Với đại đa số người lao động thành thị, ưu tiên trước hết vẫn là giá cả. Kêu gọi “xanh hóa tiêu dùng” mà không tính đến bài toán túi tiền dễ biến thành lời khuyên xa xỉ.

    Thứ hai, hạ tầng chưa theo kịp kỳ vọng. Phân loại rác tại nguồn được triển khai ở nhiều nơi nhưng khâu thu gom, xử lý lại chưa đồng bộ. Người dân phân loại xong, xe rác đến gom chung một chỗ thì động lực bị triệt tiêu. Tương tự, muốn đi phương tiện công cộng để giảm phát thải nhưng mạng lưới chưa phủ rộng, kết nối chưa thuận tiện, thời gian chờ đợi dài. Khi lựa chọn xanh đi kèm bất tiện, hành vi khó bền vững.

    Thứ ba, thông tin thiếu minh bạch làm suy giảm niềm tin. Không ít sản phẩm gắn nhãn “xanh”, “sinh thái”, “thân thiện môi trường” nhưng thiếu chứng nhận độc lập. Tình trạng “greenwashing” khiến người tiêu dùng hoài nghi. Khi niềm tin giảm, họ quay lại với lựa chọn quen thuộc và rẻ hơn.

    Thứ tư, chính sách vẫn nghiêng về vận động hơn là tạo động lực kinh tế. Thuế, phí môi trường chưa đủ sức điều chỉnh hành vi tiêu dùng gây ô nhiễm; trong khi ưu đãi cho sản phẩm, dịch vụ xanh còn hạn chế. Ở nhiều nước, chính phủ dùng trợ giá, hoàn tiền, tín dụng thuế để thúc đẩy chuyển đổi. Nếu không có cơ chế tương tự, gánh nặng thay đổi gần như dồn lên cá nhân.

    Cuối cùng, lối sống xanh đòi hỏi thay đổi thói quen, điều vốn khó hơn thay đổi khẩu hiệu. Từ việc mang bình nước cá nhân, hạn chế nhựa dùng một lần đến tiết kiệm điện, giảm thịt đỏ… đều cần kỷ luật cá nhân lâu dài. Không thể kỳ vọng một chiến dịch truyền thông vài tháng sẽ tạo ra chuyển biến bền vững.

    Nói cách khác, sống xanh không chỉ là câu chuyện đạo đức cá nhân mà là bài toán kinh tế, hạ tầng và thể chế. Muốn người dân đi nhanh, Nhà nước và doanh nghiệp phải đi trước một bước, từ đầu tư hạ tầng, minh bạch thông tin đến thiết kế chính sách khuyến khích đủ mạnh. Nếu không, lối sống xanh sẽ mãi là khẩu hiệu đẹp, còn hành vi thực tế vẫn xoay quanh hai chữ “tiện” và “rẻ”.

  3. Bài viết đúng khi cho rằng không thể dồn toàn bộ trách nhiệm phát triển xanh lên vai doanh nghiệp. Tuy nhiên, một mắt xích quan trọng của tiêu dùng bền vững là giảm lãng phí thực phẩm vẫn chưa được đặt đúng tầm. Việt Nam hiện nằm trong nhóm cao của khu vực về lượng thực phẩm bị bỏ đi còn ăn được, hơn 8,8 triệu tấn mỗi năm, tương đương gần 2% GDP. Con số này cho thấy vấn đề không nằm ở khẩu hiệu mà ở hành vi tiêu dùng hằng ngày.

    Đáng chú ý, phần lớn lãng phí xảy ra ở khâu cuối cùng, tức tại hộ gia đình. Mua quá nhu cầu, nấu dư, để quá hạn rồi bỏ đi là những thói quen phổ biến. Nếu chỉ kêu gọi hạn chế túi nylon hay tiết kiệm điện mà không chạm tới câu chuyện bữa ăn và tủ lạnh của mỗi nhà thì nội hàm “sống xanh” vẫn còn hẹp.

    Giảm lãng phí thực phẩm không chỉ là tiết kiệm tiền, mà còn trực tiếp giảm phát thải. Thực phẩm bị vứt bỏ đồng nghĩa với toàn bộ tài nguyên và năng lượng trong chuỗi sản xuất, vận chuyển, bảo quản đều trở thành phát thải vô ích. Trên thế giới, khoảng một phần ba thực phẩm bị lãng phí, tạo ra lượng khí nhà kính rất lớn.

    Vì vậy, bên cạnh minh bạch chi phí môi trường hay yêu cầu doanh nghiệp báo cáo ESG, cần thiết kế chính sách và chuẩn mực tiêu dùng thông minh hơn, từ giáo dục hành vi đến cơ chế xử lý thực phẩm dư thừa trong bán lẻ. Nếu không, nói xanh mà bữa ăn vẫn lãng phí, mục tiêu bền vững sẽ khó thành hiện thực.

  4. “Xanh vỏ, xám ruột”. Hoặc tình trạng “Greenwashing”, đi cùng với những chiến lược tiếp thị xanh hóa giả mạo hiện đang nhan nhản, rất khó phân biệt, cũng như rất dễ bị lừa. Do vậy cần có một bộ tiêu chí, kiểu TCVN, dành cho các sản phẩm và doanh nghiệp được công bố “xanh hóa” một cách thực chất nhằm bảo vệ người dùng cũng như uy tín nhà sản xuất. Cũng cần lưu ý rằng một sản phẩm hoàn chỉnh sản xuất ra và đưa vào thị trường có thể mang nhãn “xanh hóa”, nhưng các công đoạn tiếp theo sau khi sử dụng như quá trình xử lý chất thải, bảo vệ môi trường… thì không rõ như thế nào, chế tài ra sao ? Ví dụ dịch vụ ship hàng hiện nay đang tạo ra vô vàn rác thải mỗi ngày, nhất là rác thải nhựa, nilong… Vậy nên “xanh hóa” nhưng không gắn chặt với “kinh tế tuần hoàn” thì cũng chỉ mới hoàn thành được khoảng 50% sứ mệnh mà thôi.

  5. Bài viết trên chạm đúng nhiều vấn đề thực tế của quá trình xanh hóa. Tuy nhiên, nếu nhìn ở góc độ phản biện, vẫn có vài điểm cần trao đổi lại.

    Thứ nhất, lập luận “xanh hóa cần hai điều kiện tối thiểu là yêu mình, yêu nước” có tính khích lệ, nhưng dễ rơi vào cảm tính. Bảo vệ môi trường không thể chỉ dựa vào tình cảm hay đạo đức. Ở nhiều quốc gia như Đức hay Nhật Bản, chuyển đổi xanh thành công nhờ hệ thống luật lệ chặt chẽ, tiêu chuẩn kỹ thuật cao và cơ chế tài chính rõ ràng, chứ không chỉ nhờ lời kêu gọi lòng yêu nước. Nếu đồng nhất tiêu dùng xanh với “yêu nước”, vô hình trung ta biến một lựa chọn kinh tế thành phép thử đạo đức. Điều đó dễ gây phản ứng ngược trong bối cảnh thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam mới quanh 4.000 đô la.

    Thứ hai, quan điểm ưu tiên dùng sản phẩm xanh do doanh nghiệp trong nước sản xuất cần được đặt trong logic thị trường. Yêu nước không đồng nghĩa với bỏ qua tiêu chí hiệu quả. Nếu sản phẩm nội địa chưa đạt chuẩn chất lượng, giá cả hoặc minh bạch môi trường, người tiêu dùng có quyền lựa chọn phương án khác. Bảo hộ bằng cảm xúc có thể làm suy yếu động lực đổi mới. Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy doanh nghiệp nội vươn lên nhờ cạnh tranh quốc tế khốc liệt, không nhờ ưu ái đạo đức trong nước.

    Thứ ba, ý kiến về chi phí chuyển đổi cao là xác đáng nhưng chưa đầy đủ. Giá sản phẩm xanh cao hơn 10–30% phản ánh chi phí ngoại tác môi trường trước đây chưa được tính đúng, tính đủ. Vấn đề không phải “xanh quá đắt”, mà là hàng hóa gây ô nhiễm đang rẻ một cách giả tạo. Khi thuế carbon hoặc phí môi trường được thiết kế hợp lý, chênh lệch giá sẽ thu hẹp. Bài toán nằm ở chính sách giá, không chỉ ở thu nhập người dân.

    Thứ tư, lập luận về hạ tầng và niềm tin là điểm mạnh, song cũng cần nhìn nhận hai chiều. Hạ tầng tái chế hay giao thông công cộng không thể hoàn thiện nếu nhu cầu thị trường chưa đủ lớn. Tại TPHCM, khi tuyến metro số 1 đi vào vận hành, thói quen di chuyển sẽ thay đổi dần theo thời gian. Hành vi và hạ tầng có quan hệ tương hỗ, không phải một chiều “Nhà nước phải làm xong rồi dân mới làm”.

    Thứ năm, con số 8,8 triệu tấn thực phẩm lãng phí, tương đương gần 2% GDP, là cảnh báo đáng suy nghĩ. Tuy nhiên, cần thận trọng với cách quy đổi “tấn” sang “GDP”. Giá trị kinh tế và khối lượng vật lý là hai thước đo khác nhau. Nếu không minh bạch nguồn số liệu và phương pháp tính, lập luận dễ bị phản bác. Dù vậy, trọng tâm về lãng phí thực phẩm là hợp lý. Theo UNEP, thực phẩm thất thoát toàn cầu chiếm khoảng 8–10% phát thải khí nhà kính. Nghĩa là, giảm lãng phí có tác động khí hậu không kém việc thay túi nylon.

    Cuối cùng, mô hình “ba lực lượng: Nhà nước, doanh nghiệp, người dân” nghe hợp lý nhưng vẫn thiếu một mắt xích: thị trường tài chính và công nghệ. Không có vốn xanh, tín dụng xanh, tiêu chuẩn xanh, ba lực lượng kia khó vận hành trơn tru. Chuyển đổi xanh là quá trình tái cấu trúc kinh tế, không chỉ là phong trào xã hội.

    Nói gọn lại, xanh hóa không thể giản lược thành câu chuyện đạo đức cá nhân hay khẩu hiệu yêu nước. Đó là bài toán phân bổ chi phí, thiết kế chính sách và xây dựng niềm tin thị trường. Khi lựa chọn xanh trở nên tiện và rẻ tương đối, hành vi sẽ tự thay đổi. Còn nếu vẫn đắt và bất tiện, mọi lời kêu gọi, dù đầy thiện chí, cũng chỉ dừng ở mức động viên tinh thần.

  6. Trước khi có luật lệ, loài người tồn tại và phát triển bằng bản năng và cảm xúc đạo đức. Yêu nước, là đạo đức chứ không phải là luật lệ. Luật lệ lấy lợi ích vật chất để điều khiển hành vi. Trong khi đạo đức thì khuyến khích hành động tự giác tuân theo lẽ tự nhiên. Nếu không có lòng yêu nước, tất yếu sẽ không có sự tồn tại. Khi không có sự tồn tại, dĩ nhiên cũng sẽ không có thứ gì khác ?

  7. Trước hết, quan điểm cho rằng xanh hóa cần hai điều kiện tối thiểu là “yêu mình, yêu nước” mang tính cổ vũ tinh thần nhiều hơn là cơ sở vận hành chính sách. Lịch sử chuyển đổi xanh trên thế giới cho thấy động lực chính không đến từ đạo đức mà từ chi phí và luật chơi thị trường. Đức, EU hay Hàn Quốc giảm phát thải không phải vì người dân yêu nước hơn, mà vì tiêu chuẩn môi trường buộc doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thay đổi. Khi biến tiêu dùng xanh thành biểu hiện của lòng yêu nước, ranh giới giữa lựa chọn kinh tế và phán xét đạo đức dễ bị xóa nhòa, điều này đôi khi gây phản tác dụng.

    Thứ hai, lập luận ưu tiên dùng sản phẩm xanh trong nước cũng cần được nhìn thận trọng. Trong kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh phải đến từ chất lượng, giá thành và minh bạch môi trường, không phải từ sự ưu ái cảm tính. Nếu người tiêu dùng được khuyến khích mua hàng nội chỉ vì tinh thần quốc gia, doanh nghiệp có thể giảm áp lực đổi mới. Thực tế cho thấy những ngành xuất khẩu mạnh của Việt Nam trưởng thành nhờ cạnh tranh quốc tế, chứ không phải nhờ thị trường nội địa bảo vệ bằng khẩu hiệu.

    Ở chiều ngược lại, các ý kiến cho rằng sống xanh khó vì chi phí cao cũng chưa hoàn toàn đầy đủ. Giá sản phẩm xanh cao hơn phần nào phản ánh thực tế rằng chi phí môi trường trước đây chưa được tính vào giá hàng hóa gây ô nhiễm. Vấn đề cốt lõi không phải “xanh quá đắt”, mà là ô nhiễm đang rẻ một cách bất thường. Khi thuế carbon, phí rác thải hay cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất được áp dụng đúng mức, tương quan giá sẽ thay đổi.

    Lập luận về hạ tầng chưa đồng bộ là xác đáng, nhưng cách nhìn vẫn mang tính một chiều. Hạ tầng và hành vi tiêu dùng thường phát triển song song. Nếu nhu cầu phân loại rác, đi phương tiện công cộng hay tiêu dùng xanh không đủ lớn, đầu tư hạ tầng cũng khó đạt hiệu quả kinh tế. Không quốc gia nào hoàn thiện toàn bộ hệ thống rồi mới kêu gọi người dân thay đổi thói quen.

    Đối với vấn đề lãng phí thực phẩm, đây là điểm phản biện đáng chú ý nhưng cần cẩn trọng về phương pháp diễn giải số liệu. Việc quy đổi khối lượng thực phẩm bỏ đi thành tỉ lệ GDP dễ gây hiểu nhầm nếu không làm rõ cách tính. Tuy vậy, thông điệp chính là đúng: giảm phát thải đôi khi bắt đầu từ hành vi rất đời thường, không nhất thiết phải là công nghệ cao hay sản phẩm dán nhãn xanh.

    Ý kiến về “greenwashing” và yêu cầu tiêu chuẩn xanh thống nhất lại chạm đúng một khoảng trống chính sách. Khi khái niệm “xanh” bị sử dụng như công cụ marketing, niềm tin thị trường suy giảm nhanh hơn bất kỳ chiến dịch truyền thông nào có thể bù đắp. Nếu thiếu hệ thống chứng nhận độc lập và truy vết vòng đời sản phẩm, xanh hóa dễ dừng ở lớp vỏ hình ảnh.

    Cuối cùng, lập luận cho rằng xã hội tồn tại trước luật lệ nhờ đạo đức và lòng yêu nước là cách nhìn mang tính triết lý hơn là thực chứng. Ngay cả cộng đồng nguyên thủy cũng tồn tại nhờ quy tắc chung mang tính cưỡng chế tập thể, tức dạng sơ khai của luật pháp. Nhà nước hiện đại không thể vận hành chỉ bằng đạo đức tự giác, đặc biệt trong những vấn đề có chi phí chuyển đổi lớn như môi trường và khí hậu.

    Điểm chung của các tranh luận này là xu hướng biến xanh hóa thành câu chuyện ý thức cá nhân. Trong khi trên thực tế, chuyển đổi xanh trước hết là bài toán tái cấu trúc kinh tế: định giá đúng tài nguyên, thiết kế luật chơi thị trường và phân bổ lại chi phí giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Khi lựa chọn xanh trở nên hợp lý về kinh tế, hành vi sẽ thay đổi tự nhiên, không cần quá nhiều khẩu hiệu.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới