(KTSG) - Nếu Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam được hiện thực hóa theo những phương thức hợp với xu thế phát triển của thời đại, thì văn hóa sẽ trở thành nguồn lực, thành tựu, sức mạnh mềm của quốc gia trong tương lai gần. Nhưng để đạt mục tiêu đó, rất cần các điều kiện và phương pháp cụ thể.
- Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo hướng đến đóng góp 9% GDP trong 20 năm nữa
- TPHCM muốn đưa công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế mũi nhọn

Chuyện 1
Tháng 10-2025, người viết bài này có mặt tại buổi khai mạc gian hàng Việt Nam trong Hội sách quốc tế Frankfurt (Đức). Trong buổi lễ, bà Claudia Kaiser - Phó chủ tịch Hội sách Frankfurt - có một bài phát biểu ngắn gọn, đi thẳng vào trọng tâm. Ở đó, bà nhắc đến khái niệm mà giới quản trị kinh doanh thường dùng: “hệ sinh thái xuất bản”. “Hệ sinh thái xuất bản” cũng là vấn đề mà ban tổ chức hội sách này và đặt ra mỗi khi có đoàn Việt Nam đến Frankfurt gặp gỡ và đưa ra vấn đề liệu khi nào thì Việt Nam mới trở thành “khách mời danh dự” của sự kiện xuất bản thường niên lâu đời và lớn nhất thế giới này?
Một quốc gia được xem là khách mời danh dự (Guest of Honour) của Hội sách Frankfurt là một sự kiện văn hóa lớn có quy mô toàn cầu trong xuất bản; ở đó, không chỉ nền công nghiệp xuất bản của một quốc gia được trình bày một cách đầy đủ, mà còn cho thấy sức sống, tiềm lực phát triển của xã hội tri thức, văn hóa và sáng tạo của quốc gia đó trong dòng chảy thị trường xuất bản toàn cầu. Năm 2015, Indonesia đã trở thành khách mời danh dự tại Frankfurt Buchmesse. Năm 2025, đến lượt Philippines được tôn vinh tại đây. Để có được điều đó, môi trường khuyến khích đa dạng trong xuất bản, sáng tạo tri thức của các quốc gia này phải thực sự ấn tượng; sự hội nhập xuất bản toàn cầu của họ phải thực sự mạnh mẽ và sâu rộng.
Lần trở lại với khái niệm “hệ sinh thái xuất bản” mà bà Phó giám đốc Hội sách quốc tế Frankfurt nêu ra vắn tắt và tế nhị trong sự kiện khai màn cho sự hiện diện có tính chu niên của đoàn Việt Nam. Trước hội sách năm 2025 ít lâu, trả lời phỏng vấn một tờ báo điện tử ở Việt Nam, bà Claudia Kaiser cắt nghĩa khá rõ: “Chúng tôi không đòi hỏi một nền xuất bản lớn, trị giá tỉ đô la hay sức ảnh hưởng toàn cầu. Nhưng đó phải là nền xuất bản phát triển ở mức độ nhất định, có hệ sinh thái xuất bản hỗ trợ tốt cho tác giả và sức sáng tạo của họ. Đồng thời, đó cũng nên là một nền xuất bản cởi mở, tôn trọng những tiếng nói đa sắc, phản ánh được sự dịch chuyển của đất nước và hơi thở của thời đại, không bị gò bó trong những khuôn sáo hay kiểm duyệt quá gắt gao. Tiêu chí này đến từ chính nhu cầu của độc giả thế giới nói chung và giới xuất bản nói riêng: luôn luôn tìm kiếm những giá trị đa dạng, độc đáo.” (Znews.vn, 1-5-2005)
Một trong những điều rất căn bản của “hệ sinh thái xuất bản” mà vị đại diện ban tổ chức Hội sách quốc tế Frankfurt muốn thấy như một “điều kiện danh dự”, đó là cơ chế xuất bản “không bị gò bó trong những khuôn sáo hay kiểm duyệt quá gắt gao” nhằm hỗ trợ sáng tạo và phát triển tri thức, và những dự án dịch thuật quy mô, nghiêm túc để giới thiệu các giá trị tri thức, học thuật, sáng tạo của Việt Nam ra thị trường quốc tế. Câu chuyện Indonesia, Philippines và xa hơn, là Hàn Quốc, Trung Quốc đã làm được và thành công là những kinh nghiệm mà Việt Nam có thể học hỏi dễ dàng, chỉ cần mở lòng với sự thay đổi.
Năm 2024, Hàn Quốc có nhà văn Han Kang đoạt giải Nobel Văn học. Trước đó, Hàn Quốc có nhiều hiện tượng điện ảnh nở rộ, nhiều phim điện ảnh, nhà làm phim đoạt giải thưởng danh giá quốc tế. Họ còn có phong trào văn hóa đại chúng “Hàn lưu” (Hallyu) phủ rộng trên toàn cầu cho thấy sức chi phối, lan tỏa văn hóa Hàn như một làn sóng mạnh mẽ. Tất cả không phải là ngẫu nhiên. Đã có những phân tích cho thấy tất cả là trái chín của sau hơn hai thập kỷ quốc gia này xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, bắt đầu từ quyết sách, thể chế phát triển văn hóa thực tế và hiệu quả.
Chuyện 2
Năm 2025 đánh dấu kỷ niệm 50 năm sự kiện lịch sử quan trọng đó là thống nhất đất nước, và sau đó là 80 năm quốc khánh. Hai sự kiện này được tổ chức trọng thể ở hai thành phố lớn, Hà Nội và TPHCM. Chuỗi chương trình hoạt động văn hóa mừng hai sự kiện đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của công chúng. Từ đó, có một biệt ngữ xuất hiện trong năm này: concert quốc gia. Concert quốc gia lập tức cũng được xem là mẫu mực của những sự kiện thu hút sự quan tâm của đại chúng trong dòng chảy các hiện tượng văn hóa nghệ thuật và được ví như những điển cứu về phát triển ngành công nghiệp biểu diễn.
Cũng đặt điểm rơi đúng trong dòng chảy các sự kiện kỷ niệm này, bộ phim Mưa đỏ (của đạo diễn Đặng Thái Huyền, do Điện ảnh Quân đội Nhân dân sản xuất) trở thành hiện tượng phòng vé với doanh số kỷ lục - hơn 700 tỉ đồng) đã được xem là “nguồn cảm hứng” để nghĩ tới “công nghiệp điện ảnh” như một lĩnh vực mũi nhọn, tiên phong trong hình dung về một mô hình công nghiệp văn hóa tương lai. Mưa đỏ sau đó tiếp tục thắng giòn giã các giải thưởng điện ảnh trong nước (3 giải Cánh Diều Vàng, 2 giải Ngôi Sao Xanh, 5 giải Bông Sen Vàng). Dù vậy, khi đại diện Việt Nam tham gia giải Oscar 2026 ở hạng mục Phim quốc tế xuất sắc, thì phim này không chứng minh được sức bật cạnh tranh về giá trị nghệ thuật điện ảnh: bị loại ngay từ vòng sơ khảo.
Nhưng sau mỗi một sự kiện bùng nổ doanh số như vậy, báo chí dư luận lại háo hức đặt ra vấn đề về “công nghiệp văn hóa”.
Liệu những sản phẩm văn hóa từ các sự kiện chính trị xã hội cho đến những tác phẩm đáp ứng một “insight truyền thông” trong phạm vi quốc gia tạo cú hích về cảm xúc cũng như doanh số tại chỗ thì có đủ đứng vững như một “nền công nghiệp văn hóa” tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu?
Vậy vấn đề đặt ra là có thể hình dung thế nào về một ngành công nghiệp văn hóa?
Định nghĩa lại và cần phương pháp mới
Nghị quyết 80 về Phát triển văn hóa Việt Nam ra đời trong bối cảnh thế giới có những biến động về chính trị, kinh tế và văn hóa bất định. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, việc sớm định hình mục tiêu thúc đẩy văn hóa như là một thành tố làm cân bằng và tạo chiều sâu, đóng góp trực tiếp vào công cuộc phát triển với một đất nước đang có lợi thế về ổn định xã hội là điều thuận lợi và cần thiết. Như phần đầu Nghị quyết nêu rõ: “Thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hóa, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới. Yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập; chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức thúc đẩy phát triển văn hóa. Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội”.
Trong một số chỉ tiêu thuộc mục tiêu đến năm 2030, đáng chú ý, Nghị quyết 80 nêu ra con số cụ thể: “Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn”; và nêu ra yêu cầu về công nghiệp văn hóa: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa, như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế và thời trang...”. Tầm nhìn đến 2045, Nghị quyết này nêu viễn kiến xa hơn: “Công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8-10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh; Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa”.
Nhưng đáng chú ý và đáng chờ đợi nhất ở Nghị quyết 80 đó là nêu rõ chủ trương chuyển đổi tư duy của nhà nước từ quản lý đến quản trị văn hóa, từ giám sát, xét duyệt, chỉ đạo sang kiến tạo, thúc đẩy tạo ra hệ sinh thái văn hóa. Đây là điểm cốt lõi, có thể tạo ra bước ngoặt về phát triển, cởi bỏ những ràng buộc phi lý khiến văn hóa, sáng tạo của đất nước không thể nối kết một cách bình đẳng và hài hòa với cuộc chơi lớn của thị trường các nền công nghiệp văn hóa toàn cầu trong suốt một thời gian dài.
Nếu làm đúng tinh thần ấy bằng việc thể chế hóa, gỡ bỏ những rủi ro cho môi trường khuyến khích sáng tạo văn hóa, kinh doanh sản phẩm văn hóa và nuôi dưỡng một thị trường đúng nghĩa với sự tham gia đầu tư mạnh mẽ và chủ động của tư nhân thì sẽ tạo ra một bước ngoặt lớn. “Tiềm năng chắc chắn là có, nhưng công việc còn rất nhiều, quan trọng nhất là phải thể chế hóa và có các chính sách rất cụ thể, nhanh, hiệu quả giống như Hàn Quốc hay Trung Quốc đã làm trong những năm trước đây”, bà Ngô Thị Bích Hạnh, Phó chủ tịch BHD phát biểu trên báo Tuổi Trẻ (14-1-2025).
Thể chế hóa, chắc chắn đó cũng là mong chờ của không chỉ giới kinh doanh sản phẩm văn hóa, mà còn cả những chủ thể sáng tạo và hưởng thụ sản phẩm văn hóa là mỗi người dân. Và đó là bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy ý nghĩa thực tiễn của Nghị quyết 80 thoát khỏi câu chữ khái niệm, tạo ra hệ sinh thái thuận lợi và nguồn lực đột phá phát triển trong một giai đoạn mới.






