(KTSG) - Năm 2025, hơn 80% trong tổng số 2,2 triệu người học ở các trường dạy nghề trong cả nước tốt nghiệp và có việc làm, trong đó khoảng 70-75% làm đúng nghề đã học (1). Nếu chỉ nhìn vào các con số này, có thể thấy rằng giáo dục nghề nghiệp đang vận hành khá tốt và đang “gánh” một phần quan trọng nhu cầu nhân lực kỹ năng của nền kinh tế. Nhưng vì sao học nghề vẫn là sự lựa chọn hạng hai sau học đại học?
- Khó tuyển sinh, trường nghề loay hoay tìm hướng phát triển
- Quy hoạch lại giáo dục dạy nghề, chuyển sang tự chủ
Những điểm nghẽn
Các gia đình nhiều chục năm qua vẫn nghiêng về hướng cho con vào đại học thay vì trường dạy nghề vì nghĩ đến một cơ hội có việc làm ngay sau khi ra trường, đến mức thu nhập có thể sống tốt, tính ổn định và khả năng được thăng tiến trong công việc - điều mà người tốt nghiệp trường nghề chỉ đạt được trong giới hạn.

Trong khi bằng đại học, dù chất lượng không đồng đều giữa các đơn vị đào tạo, vẫn tạo ra một không gian linh hoạt để người học có thể đổi ngành, học tiếp hoặc chuyển sang những vị trí quản lý, thì bằng nghề ở nhiều lĩnh vực vẫn bị đóng khung trong những vị trí kỹ thuật bậc thấp. Khi khả năng dịch chuyển và leo thang nghề nghiệp còn hạn chế, học nghề khó trở thành một lựa chọn an toàn cho những gia đình đang tìm kiếm sự ổn định dài hạn.
Một trong những nút thắt lớn nhất nằm ở cách chúng ta phân luồng và hướng nghiệp. Ở nhiều trường phổ thông, hướng nghiệp vẫn mang tính thời vụ, nặng về tuyên truyền hơn là dẫn dắt. Phân luồng thường diễn ra theo logic ngầm rằng học sinh học yếu thì đi học nghề. Khi một con đường được gắn với sự “kém hơn”, nó rất khó trở thành lựa chọn ưu tiên, dù thực tế xã hội đang rất cần lao động có tay nghề và kỹ năng.
Bên cạnh đó, chất lượng và trải nghiệm học nghề giữa các cơ sở còn rất không đồng đều. Có những trường làm rất tốt, gắn chặt với doanh nghiệp và tạo ra người học có tay nghề cao. Nhưng cũng có không ít nơi chương trình lạc hậu, thiết bị thiếu, doanh nghiệp tham gia hời hợt. Trong một thị trường giáo dục cạnh tranh, sự không đồng đều này tạo ra rủi ro lớn cho người học. Khi gia đình không thể dự đoán chắc chắn kết quả đầu ra, họ có xu hướng chọn con đường được coi là an toàn hơn, dù có thể không hiệu quả hơn.
Một điểm yếu khác của giáo dục nghề nghiệp hiện nay là sự thiếu vắng của ngoại ngữ, kỹ năng số và các kỹ năng nền. Trong nền kinh tế hội nhập, một người thợ giỏi tay nghề nhưng không đủ ngoại ngữ và kỹ năng công nghệ sẽ rất khó tham gia sâu vào chuỗi sản xuất hiện đại, đặc biệt là khó làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và càng khó thăng tiến. Khi chương trình đào tạo nghề xem những năng lực này là phần phụ, hệ thống đang vô tình giới hạn trần phát triển của chính người học.
Chính sách cũng góp phần duy trì hình ảnh “ngắn hạn” của học nghề. Giáo dục nghề nghiệp thường được dùng như công cụ để giải quyết nhanh thất nghiệp hoặc đào tạo lại lao động mất việc. Điều này giúp người học sớm quay lại thị trường lao động, nhưng lại củng cố quan niệm rằng học nghề chỉ để xử lý trước mắt, không phải để xây dựng sự nghiệp dài hạn. Khi mục tiêu chính sách là quay vòng lao động nhanh, thay vì tích lũy kỹ năng và nâng cao năng suất, rất khó để hình thành một tầng lớp lao động kỹ thuật có thu nhập và vị thế xã hội đủ cao.
Gỡ những định kiến
Luật Giáo dục nghề nghiệp mới có hiệu lực từ tháng 1-2026 mở ra nhiều thay đổi về quản trị, chất lượng và vai trò của doanh nghiệp. Nhưng giá trị của luật không nằm ở số nội dung các điều khoản mà ở việc nó có làm cho con đường nghề nghiệp trở nên rõ ràng, có thể dự đoán và có thể tích lũy hay không. Nếu luật không tạo ra chuẩn đầu ra đủ mạnh, không mở rộng khả năng học tiếp và không buộc doanh nghiệp chia sẻ chi phí đào tạo thì niềm tin của học sinh, gia đình và xã hội sẽ vẫn khó thay đổi.
Muốn giáo dục nghề nghiệp trở thành lựa chọn số được ưu tiên phù hợp với nhu cầu và năng lực của cá nhân thì cần một sự dịch chuyển từ “đào tạo để có việc” sang “đào tạo để có tương lai”. Phân luồng và hướng nghiệp phải được xây dựng trên những lộ trình nghề nghiệp cụ thể, nơi người học có thể nhìn thấy rõ từ học nghề, lấy chứng chỉ, đi làm, tăng thu nhập cho đến học tiếp và thăng tiến. Chất lượng đào tạo phải được đo bằng kết quả dài hạn của người học, không chỉ là tỷ lệ có việc làm ngay sau tốt nghiệp. Ngoại ngữ, kỹ năng số và kỷ luật công nghiệp cần trở thành phần cốt lõi của đào tạo nghề chứ không phải phần phụ.
Quan trọng hơn, quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp phải chuyển từ hợp tác hình thức sang cùng góp sức vào đào tạo nguồn nhân lực. Khi doanh nghiệp tham gia thực chất vào chuẩn đầu ra, trả lương cho thực tập sinh và đặt hàng theo vị trí việc làm, bằng nghề mới có giá trị thật trên thị trường.
Giáo dục nghề nghiệp không thiếu kết quả nhưng đang thiếu một câu chuyện đủ mạnh về tương lai. Học nghề chỉ thực sự trở thành lựa chọn ưu tiên khi nó được thiết kế như một con đường phát triển phù hợp với năng lực cá nhân, có thể kiểm chứng bằng việc làm, tích lũy bằng kỹ năng và đủ giá trị để người học và gia đình đặt niềm tin và lựa chọn.
(1) https://tuoitre.vn/nam-2025-dao-tao-giao-duc-nghe-nghiep-2-2-trieu-nguoi-80-hoc-vien-tot-nghiep-co-viec-lam-20251212145108669.htm






