Cánh đồng bất tận - chọn lựa của phe nước mắt
Nguyễn Vĩnh Nguyên
![]() |
| Bộ phim Cánh đồng bất tận đang thu hút sự chú ý của dư luận. Ảnh: Lê Toàn. |
(TBKTSG) - Nguyễn Thanh Sơn, một nhà phê bình văn học nhiều năm làm doanh nhân, ít thấy những bài viết mới, đã hạ bút nhại một câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Dương Tường để làm đề từ cho bài phê phán khá gay gắt của mình về phim Cánh đồng bất tận: “Tôi (không) đứng về phe nước mắt”.
Từ chữ sang hình
Trước đó, báo Tuổi Trẻ đã có loạt bài phản ánh việc “nước mắt rơi” của bộ phim này suốt nửa tháng, từ liên hoan phim Busan đến Sài Gòn trong ngày phát hành (22-10). Với tờ báo này, đây là một bộ phim hay, có sức lay động lòng người.
Quả thật, có mặt tại rạp phim của BHD sau buổi trình chiếu ra mắt, cũng có thể thấy được sự háo hức mong chờ của khán giả điện ảnh và giới chuyên môn đối với bộ phim, ba suất chiếu đầu tiên nườm nượp khách, và, đúng như báo Tuổi Trẻ đã phản ánh, khán giả tốn khá nhiều khăn giấy vào việc lau nước mắt trong suốt thời gian ngồi trước màn ảnh.
Vấn đề đặt ra, dù muốn, nhưng thật khó để nhìn nhận phim Cánh đồng bất tận độc lập với tác phẩm văn học đã tạo ra dư luận của Nguyễn Ngọc Tư. Người xem phim, kể cả giới chuyên môn trong các bài phê bình bộ phim sau đó, đều ít nhiều có sự đối sánh. Tâm lý so sánh khắt khe này cũng đã xảy ra với các phim chuyển thể khác trước đây, không chỉ riêng với điện ảnh Việt Nam mà còn với điện ảnh quốc tế.
Như vậy, một tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ tác phẩm văn học quá nổi tiếng trước đó sẽ tạo ra một thuận lợi bên cạnh một bất lợi cho nhà làm phim. Thuận lợi là khán giả sẽ đổ xô đi xem phim vì sự tò mò sau khi đọc và thích thú với tác phẩm văn học. Bất lợi là khi xem, với cảm nhận và sự sáng tạo riêng từ nguyên tác, người xem sẽ đòi hỏi cao hơn ở bộ phim mà họ quên rằng, biên kịch, đạo diễn, các diễn viên cũng được dự phần sáng tạo theo cách của họ, và ngôn ngữ điện ảnh có đặc thù khác xa văn học…
|
Bộ phim Cánh đồng bất tận Đạo diễn: Nguyễn Phan Quang Bình. Kịch bản: Ngụy Ngữ (chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư). |
Tất nhiên, có những bộ phim đã vượt xa những khó khăn đó để chứng minh sự độc lập và độc đáo của mình. Đó là khi những nhà làm phim đủ sức đạp đổ những thành trì “mô thức lý tưởng chủ quan” (theo Platon) trong người xem để cung cấp những hình dung mới mẻ và độc lập hơn cho họ. Câu chuyện ở đây là tài năng của những nhà làm phim.
Vậy thì, trở lại với phim Cánh đồng bất tận, chúng ta thấy gì khi giới phê bình, chuyên môn lên tiếng chỉ trích bộ phim yếu trong ngôn ngữ hình ảnh và diễn xuất, ngây ngô trong lời thoại, khiên cưỡng trong cái kết… trong lúc khán giả lại kéo nhau đến rạp và làm những cơn mưa nước mắt?
Chọn và cần
Có hai yếu tố giúp Cánh đồng bất tận thành công về doanh thu tại Việt Nam. Một là nghệ thuật hấp dẫn công chúng: chuyển thể từ nguyên tác từng tạo ra hiện tượng văn học, quy tụ dàn diễn viên ngôi sao (Tăng Thanh Hà, Dustin Nguyễn, Hải Yến…), bối cảnh tác phẩm hoang dã và gợi nhiều xúc cảm (miền Tây), mời chuyên gia dựng phim đến từ Holywood. Hai là bộ phim đã đánh đúng vào tâm lý đại chúng với đặc trưng thị hiếu dễ bị truyền thông tác động dây chuyền, đặt nặng yếu tố cảm tính trong thưởng thức nghệ thuật, tính từ “hay” ít xuất phát từ tư duy lý tính phân tích mà thường được đánh giá qua mức độ cảm động, rơi nước mắt, gợi lòng xót thương…
![]() |
| Cảnh trong phim Cánh đồng bất tận. |
Với một đặc thù thị trường đại chúng như thế, các nhà làm phim luôn đứng trước hai vế của một câu hỏi sống còn: khơi dòng nước mắt để thỏa mãn thị hiếu người xem nhằm đạt hiệu quả doanh thu, tiếng tăm ở trong nước hay quyết liệt đi tìm giá trị, ngôn ngữ mới và chấp nhận đương đầu với những trở lực thị trường và trở ngại khác?
Gần đây, qua vài tác phẩm dành giải lớn tại các liên hoan phim nước ngoài, một số đạo diễn đã chọn lựa cho mình vế thứ hai trong câu hỏi trên. Họ gây được tiếng vang bên ngoài nhưng vì đặc thù thị trường tiếp nhận và một số lý do tế nhị, phim của họ không được đón nhận trên quê hương.
Biết “liệu cơm gắp mắm”, Nguyễn Phan Quang Bình của Cánh đồng bất tận, đã “giới hạn” mình trong hướng đi thứ nhất: gặt hái nước mắt, doanh thu với “cánh đồng hữu hạn” của mình. Và dễ hiểu khi ngay lúc phim này lạc quan với việc kéo khán giả đến rạp thì chính nó lại đang mở ra mối lo âu khác về một “cánh đồng bất tận” khác, thiếu vắng sự quyết liệt, dấn thân và ý chí vượt thoát của nền điện ảnh Việt Nam.
Vẫn biết nghệ thuật điện ảnh tôn trọng mọi chọn lựa và rất cần đa dạng khuynh hướng. Với tình trạng “bất tận” cảm tính của “cánh đồng” phim Việt Nam thì duy trì việc nuôi dưỡng tình yêu nơi công chúng là việc cần. Nhưng thực tế còn cần nhiều hơn những người trẻ kiêu hãnh dám và đủ sức khước từ sự mải mê nuông chiều cái lý tưởng ủy mị của số đông để quả quyết dấn thân tìm kiếm, mang lại những dấu ấn sáng tạo mới mẻ, cá tính cho nghệ thuật điện ảnh.








