(KTSG) - Cập nhật đến ngày 24-11-2025, mưa lũ liên tiếp tại các tỉnh Trung bộ khiến 102 người chết và mất tích, gây thiệt hại kinh tế ước tính hơn 13.000 tỉ đồng. Mất mát quá lớn này là lời cảnh tỉnh về mức độ dễ tổn thương của nước ta trước các hiện tượng thời tiết cực đoan, khi khí hậu đang nóng lên nhanh hơn mọi dự báo.
- TPHCM chi viện hơn 60 tỉ đồng, gần 3.000 tấn hàng hóa hỗ trợ vùng lũ
- Đưa đoàn tàu chất lượng cao lần đầu được sản xuất tại Việt Nam vào hoạt động

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia nhận định đợt mưa lũ kéo dài từ ngày 16 đến 22-11 ở Nam Trung bộ là một hiện tượng cực đoan, vượt xa các kỷ lục từng được ghi nhận trong nhiều thập niên(1).
Nhiều trạm đo mưa như Sơn Hòa (Đắk Lắk) đạt 601 mi li mét, Quy Nhơn (Gia Lai) 380 mi li mét; trong khi các trạm Sơn Thành Tây, Sơn Thành Đông, Hòa Mỹ Tây hay Sông Hinh ghi nhận lượng mưa lên tới 1.000-1.200 mi li mét chỉ trong vài ngày. Theo phân loại của Tổ chức Khí tượng thế giới, đây là những sự kiện hiếm gặp, gần như không thể dự báo chính xác về định lượng.
Điều kiện ban đầu trước khi mưa đến cũng đặc biệt bất lợi. Lượng mưa tích lũy từ tháng 10 đến giữa tháng 11-2025 đã cao hơn trung bình nhiều năm từ 120-200%, khiến đất đai bão hòa nước. Khi bước vào đợt mưa chính, chỉ cần thêm vài trăm mi li mét nước bổ sung là đủ kích hoạt lũ lớn trên diện rộng.
Nước ta từng chứng kiến những đợt mưa vài trăm mi li mét trong thời gian ngắn, nhưng chuỗi mưa lũ từ Bắc vào Nam lần này cho thấy chúng ta đang đứng trước một ranh giới mới - giữa “thiên tai truyền thống” và “khí hậu hiện đại” đang biến đổi nhanh hơn mọi dự báo. Tần suất các trận mưa vượt chuẩn đang có xu hướng tăng lên như cảnh báo của giới khoa học khí hậu quốc tế nhiều năm qua.
Bài học từ Tokyo, Seoul hay Singapore cho thấy không quốc gia nào đủ khả năng xây dựng đô thị chống chịu mọi kịch bản thiên tai. Nhưng họ có thể duy trì hoạt động bình thường khi mưa vừa, hạn chế thiệt hại khi mưa lớn và bảo đảm an toàn khi ngập sâu. Đó là tư duy quy hoạch dựa trên “ngưỡng chịu đựng”, thay vì chạy theo mục tiêu bất khả thi là chống ngập tuyệt đối.
Khó để quy trách nhiệm hoàn toàn mọi đợt mưa lũ đều do biến đổi khí hậu, bởi thời tiết là kết quả tương tác phức tạp giữa khí quyển, địa hình, hoàn lưu gió mùa và nhiều yếu tố từ đại dương. Nhưng cũng không thể phủ nhận thực tế: nền nhiệt toàn cầu đang nóng lên đã làm thay đổi “hành vi” của các trận mưa lớn. Nhiệt độ mặt biển Đông hiện cao hơn thập niên 1960 khoảng 1-1,5°C. Mức tăng như vậy đủ khiến hơi nước bốc lên nhiều hơn, giúp các hệ thống thời tiết tích trữ lượng ẩm lớn hơn, và khi hội tụ đủ điều kiện, những trận mưa xối xả sẽ trở thành điều khó tránh khỏi.
Không phải mọi trận mưa đều do biến đổi khí hậu, nhưng biến đổi khí hậu khiến mọi trận mưa có khả năng trở nên cực đoan hơn. Đợt mưa lũ vừa qua ở nước ta, với các kỷ lục bị xô đổ trong thời gian rất ngắn, là một minh chứng rõ ràng cho nhận định đó.
Trong bối cảnh đó, thế giới vừa trải qua Hội nghị lần thứ 30 các bên tham gia Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (COP30) với kết quả không như kỳ vọng, dù các cuộc đàm phán kéo dài tới đêm muộn. Các quốc gia lớn vẫn chưa thể thống nhất lộ trình ràng buộc nhằm loại bỏ nhiên liệu hóa thạch. Cũng dễ hiểu, khi không nền kinh tế nào muốn đánh đổi an ninh năng lượng trong bối cảnh tăng trưởng chậm và chi phí sinh hoạt tăng cao.
Tuy vậy, câu chuyện khí hậu không hoàn toàn u ám. Giá năng lượng tái tạo đã giảm mạnh trong một thập niên, tạo tiền đề cho quá trình chuyển đổi năng lượng diễn ra nhanh hơn. Công nghệ lưu trữ điện, hydrogen xanh hay thu giữ carbon đang dần phát triển. Những yếu tố này cho thấy cuộc chiến giảm phát thải vẫn còn cơ hội, dù không dễ dàng và không thể kỳ vọng vào một bước ngoặt ngay lập tức từ các hội nghị quốc tế.
Đối với Việt Nam, bài toán thực tế không phải là “chống” hay “ngăn” hoàn toàn mưa lũ, bởi điều đó nằm ngoài khả năng của bất cứ quốc gia nào, mà là thích ứng một cách chủ động và thông minh.
Bài học từ Tokyo, Seoul hay Singapore cho thấy không quốc gia nào đủ khả năng xây dựng đô thị chống chịu mọi kịch bản thiên tai. Nhưng họ có thể duy trì hoạt động bình thường khi mưa vừa, hạn chế thiệt hại khi mưa lớn và bảo đảm an toàn khi ngập sâu. Đó là tư duy quy hoạch dựa trên “ngưỡng chịu đựng”, thay vì chạy theo mục tiêu bất khả thi là chống ngập tuyệt đối.
Chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi hướng tiếp cận này. Hệ thống thoát nước đô thị cần được nâng cấp theo tiêu chuẩn thực tế hơn, đủ sức chịu được những cơn mưa khoảng 100 mi li mét trong hai giờ mà không gây tê liệt hoàn toàn. Những khu vực trũng thấp cần kịch bản ngập an toàn: quy hoạch lại dân cư, nâng cao nhà cửa, xây dựng nơi trú ẩn, giảm mật độ công trình ở vùng có nguy cơ cao. Những cơn mưa lớn hơn, ở mức 300-500 mi li mét, cần được xem như tình huống khẩn cấp, trong đó sơ tán, cảnh báo sớm và đường thoát hiểm phải trở thành ưu tiên.
Một trụ cột quan trọng trong chiến lược thích ứng là chuyển đổi mô hình phát triển đô thị theo hướng “đô thị bọt biển”(2), tăng khả năng thấm và giữ nước của bề mặt tự nhiên. Điều này đòi hỏi mở rộng các hồ điều hòa, tạo thêm không gian trũng trong đô thị, sử dụng vật liệu thấm nước ở khu dân cư và thương mại, đồng thời phục hồi hệ thống kênh rạch để bảo đảm dòng chảy được thông suốt.
Cùng với đó, “Chính phủ cần đầu tư hệ thống cảnh báo thiên tai hiện đại, chính xác và kịp thời hơn để phát cảnh báo sớm tới người dân và doanh nghiệp, giúp chính quyền cơ sở có thêm thời gian triển khai các biện pháp ứng phó, giúp giảm thiểu thiệt hại”, như đề nghị của Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội trong phiên thảo luận tổ về tình hình kinh tế - xã hội tại kỳ họp của Quốc hội đang diễn ra.
Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua nhiều nội dung về quy hoạch như: dự án Luật Quy hoạch (sửa đổi), điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030 và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn. Đây là cơ hội để rà soát lại toàn bộ nền tảng pháp lý cho công tác quy hoạch trong bối cảnh khí hậu đã thay đổi và tích hợp các yêu cầu phòng chống lũ, ngập, sạt lở theo tiêu chuẩn mới của khí hậu đang thay đổi nhanh.
Lũ lụt năm nay có thể chỉ là một pha trong chu kỳ khí hậu nhiều thập niên nhưng sự nóng lên toàn cầu có thể khiến chu kỳ này rút ngắn và mức độ khốc liệt tăng lên. Điều này buộc chúng ta phải chuẩn bị kịch bản cho một trạng thái khí hậu hoàn toàn khác so với những gì từng được sử dụng làm cơ sở quy hoạch trong thế kỷ trước. Rõ ràng, không thể xây dựng quy hoạch của thập niên 1980 cho một thế giới đã nóng lên hơn 1 độ C. Hạ tầng, không gian đô thị và phân bố dân cư đều phải được thiết kế lại dựa trên dữ liệu mới, rủi ro mới và chu kỳ thiên tai mới.
(1) https://tuoitre.vn/mua-lu-o-nam-trung-bo-la-cuc-doan-hiem-gap-gan-nhu-khong-the-du-bao-chinh-xac-dinh-luong-2025112316214402.htm
(2) https://vnexpress.net/y-tuong-thanh-pho-bot-bien-giup-tp-hcm-song-cung-mua-ngap-4958961.html
