Chút tản mạn về doanh nhân miền Tây
![]() |
| (minh họa: Khều) |
(TBKTSG) - Cách đây vài năm, nhân một chuyến công tác miền Tây, tôi đã có dịp tiếp xúc với một số doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm gốm xuất khẩu tại Vĩnh Long. Nhân lúc trà dư tửu hậu, hỏi ra mới biết ngành gốm xuất khẩu đang trên đà phát triển khá thuận lợi. Cơ hội kinh doanh khá tốt đã lôi cuốn một số doanh nghiệp từ TPHCM về Vĩnh Long làm ăn.
“Dân kinh doanh Sài Gòn nắm được mối lái nước ngoài nên có lợi thế hơn chúng tôi - một số chủ doanh nghiệp Vĩnh Long bộc bạch. Họ có nhiều chiêu thức để tranh mua tranh bán, thậm chí chèn ép giá đối với các doanh nghiệp địa phương. Chúng tôi lo lắng nhưng do thiếu thông tin và chưa có mạng lưới nên vẫn buộc phải bán hàng cho họ”.
Tôi đem câu chuyện trên kể lại cho một anh bạn cũng là dân trong ngành gốm. Anh đón nhận câu chuyện với vẻ bình thản hiếm thấy ở những người trạc tuổi ba mươi như anh.
“Chính tôi cũng phải học hỏi dân Sài Gòn. Nếu tôi là dân kinh doanh Sài Gòn, tôi cũng sẽ làm như họ. Tôi thường dị ứng khi thấy nhiều người hay sử dụng những ngôn từ đại loại như tranh mua tranh bán, chèn ép giá cả khi nói về thương lái. Theo tôi, trong kinh doanh, ngoài các mối quan hệ, ai có nhiều thông tin, nhiều kiến thức sẽ kiếm được lợi nhiều. Tôi cũng không thích lối suy nghĩ cục bộ trong các quan hệ làm ăn”, anh nói.
Thân quen đã lâu nên tôi tin lời anh nói. Trẻ tuổi, quảng giao, đi nhiều, biết nhiều, chịu học hỏi và chấp nhận cạnh tranh đã giúp anh thành đạt.
Qua câu chuyện, tôi nhận thấy cùng một môi trường kinh doanh, nhưng rõ ràng vẫn còn đó những cung cách làm ăn khác nhau. Vẫn còn đó những suy nghĩ khép kín, cục bộ trong thế đối nghịch với cái mới, sự năng động và cởi mở trong các mối quan hệ.
Qua câu chuyện với anh bạn, tôi miên man suy nghĩ về tiến trình hình thành tầng lớp doanh nhân miền Tây. Phải chăng, chính những đặc điểm và bối cảnh lịch sử hình thành vùng đất này, cùng với sự pha trộn văn hóa, đã tạo nên tính cách, lối sống, cách suy nghĩ rất đặc thù mà không dễ có một vùng đất nào khác trên lãnh thổ Việt Nam có được.
Càng đi nhiều, sống nhiều, giao thiệp nhiều với bạn bè miền Tây, tôi lại càng ngạc nhiên bởi chính những mâu thuẫn tiềm ẩn trong cách suy nghĩ và tính cách của họ. Phóng khoáng thì nhiều nhưng vẫn thấp thoáng đâu đó sự co cụm. Những dấu ấn lang bạt kỳ hồ từ Bắc, Trung vô Nam của cha ông trong tiến trình khai phá đất phương Nam lại dẫn đến một trong những kết cục lạ kỳ là tính ngại ly hương, ngại rủi ro, mạo hiểm của không ít con cháu đời sau.
Tôi thoáng nhớ lại những gì đã từng đọc qua về khởi thủy khai phá miền Nam, với công lao phò giúp nhà Nguyễn của Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch trong việc tạo dựng vùng Đồng Nai, Mỹ Tho và tên tuổi của Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích trong tiến trình khai phá vùng Hà Tiên, Rạch Giá và Phú Quốc. Người Việt không giỏi mua bán nên lĩnh vực thương mại thời đó đã gần như hoàn toàn thuộc về người Minh Hương, người Hoa.
Bên cạnh đó, việc quản lý hành chính một cách tập trung trên vùng đất mới này vẫn chưa hoàn toàn được xác lập, lối suy nghĩ ảnh hưởng Nho giáo “sĩ, nông, công, thương” cộng với khó khăn “cách trở đò giang” phải chăng đã để lại dấu ấn trên tính cách của lưu dân người Việt, phần lớn là dân nghèo: tính co cụm, an phận thủ thường với nghề nông sau một quãng dài lang bạt. Họ đã được mô tả như là những người “... cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó... chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ...” (Nguyễn Đình Chiểu). Cho đến nay, vẫn chưa thấy tài liệu nào viết về những doanh nhân người Việt ở miền Nam trong thời kỳ này.
Sau thời điểm 1802, người Minh Hương, người Hoa tiếp tục khẳng định vai trò gần như độc tôn trong thương mại, một phần nhờ vào những chính sách tưởng thưởng, biệt đãi của vua Gia Long, dù rằng chính sách đó về sau có nhiều thay đổi, nhất là dưới thời Minh Mạng.
Thời Pháp thuộc, doanh nhân người Hoa tiếp tục tồn tại và phát triển song song với các nhà tư bản và doanh nhân người Pháp. Họ tiếp tục nhận được những ưu đãi của nhà cầm quyền, bên cạnh sự hỗ trợ của cộng đồng Hoa kiều Đông Nam Á.
Trên bình diện cả nước, số doanh nhân người Việt mới tạo nghiệp và thành công chỉ đếm được trên đầu ngón tay, huống chi là riêng miền Nam. Những người giàu có và doanh nhân người Việt đầu tiên đã hình thành. Không phủ nhận khả năng kinh doanh của họ, đặc biệt trong việc đối đầu và cả né tránh những cạnh tranh trực tiếp từ tư bản người Pháp và người Hoa, nhưng ít nhiều sự thành đạt của họ là nhờ có những điều kiện thuận lợi: đa phần xuất thân từ những gia đình phú hào, điền chủ, hội đồng có những mối quan hệ nhất định với người Pháp.
Miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã bắt đầu biết nhiều đến những doanh nhân người Việt gắn liền với những thương hiệu nổi tiếng như OPV, Trang Hai, Vĩnh Thịnh, Tín Nghĩa Ngân hàng, các doanh nghiệp trong Khu Kỹ nghệ Biên Hòa.
Cũng phải nhắc lại rằng, chính sách cưỡng bức hội nhập đối với người Hoa của chính quyền miền Nam sau năm 1954 cũng ít nhiều tạo đà phát triển cho các doanh nghiệp thuần túy của người Việt. Tuy nhiên, đa phần các doanh nghiệp này tập trung ở đất Sài Gòn - Gia Định chứ ít thấy tên tuổi ở miền Tây. Có những doanh nhân được xã hội nhìn nhận là đã tự mình vươn đến thành công, trong đó cũng có một số làm giàu từ chiến tranh.
* * *
Có người cho rằng, giai đoạn 1975-1986 là thời kỳ để lại nhiều dấu ấn cho các tầng lớp doanh nhân người Việt, trong đó có doanh nhân miền Tây. Hình như trong thời kỳ quản lý kế hoạch hóa tập trung đó, đã bắt đầu hình thành, hun đúc, tạo nền tảng cho những lớp doanh nhân mới sau này. Nói một cách khác, không ít doanh nhân thành công tại miền Tây hiện nay là những người đã làm việc, gắn bó và có nhiều trải nghiệm với nền kinh tế hiện tại kể từ thời “bao cấp”.
Những câu nói cửa miệng đại loại như “quen lớn”, “quan hệ rộng”, “thông tin đặc biệt”... vẫn được sử dụng rất phổ biến trong giới làm ăn thời nay. Người ta mới nói nhiều về tầng lớp doanh nhân miền Tây trong khoảng hai mươi năm trở lại đây. Điều đó cũng có nghĩa trong công cuộc kiến thiết đất nước ngày nay, cùng với cả nước, đã hình thành nên một tầng lớp doanh nhân khá mới mẻ ở miền sông nước này, với đặc tính như đã nói, vừa phóng khoáng vừa có chút xu hướng co cụm. Phải chăng, để hình thành lớp doanh nhân mới ở miền Tây, cần giúp họ lột xác hơn nữa?
TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG - Đại học Kinh tế TPHCM
|
CEO đồng bằng sông Cửu Long Với ĐBSCL, khái niệm Giám đốc điều hành (CEO) vẫn còn xa lạ khi hầu hết doanh nghiệp tại đây là công ty nhà nước, hoặc các doanh nghiệp nhỏ, và họ chưa thật sự quan tâm đến vai trò của CEO. Tại hội thảo “CEO ĐBSCL trong hội nhập kinh tế quốc tế” do Viện Nghiên cứu kinh tế phát triển thuộc Đại học Kinh tế TPHCM (IDR) phối hợp cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp (VCCI) chi nhánh Cần Thơ tổ chức vào tuần trước, Tiến sĩ Võ Hùng Dũng - Giám đốc VCCI Cần Thơ, cho biết từ khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều công ty nhà nước đã cổ phần hóa quan tâm nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh và các yếu tố thị trường. Một số công ty tư nhân đã có bước phát triển về quy mô, các công ty có tính chất gia đình quan tâm tìm kiếm nhân sự điều hành công việc kinh doanh. Với sự xuất hiện ngày nhiều hơn các doanh nghiệp mới, trẻ... đã hình thành một đội ngũ CEO mới ở ĐBSCL. Một cách hình tượng, GS.TS.Hồ Đức Hùng - Giám đốc IDR, cho rằng: “Doanh nghiệp là một con thuyền. Chủ doanh nghiệp là người làm ra con thuyền và CEO là người lèo lái con thuyền đó. Thuyền tốt, người lái dở, khó đến bờ” và ngược lại. Và ông nhấn mạnh, đội ngũ CEO phải thấu hiểu được đặc điểm của địa phương, văn hóa, tâm lý của khách hàng và biết vận dụng những đặc điểm đó trong đầu tư và kinh doanh. Theo Giám đốc Công ty TNHH Trần Liên Hương (Sóc Trăng), Trần Khắc Tâm: “Các CEO ĐBSCL ngày nay không ngồi một chỗ chờ cơ hội, mà luôn tìm kiếm cơ hội hợp tác, đầu tư. Không chỉ mở rộng thị trường trong nước, họ còn biết vươn ra tầm quốc tế”. Tình hình lạm phát và khó khăn hiện nay, theo ông Tâm, “là thời điểm thử tài các CEO, đòi hỏi họ phải bình tĩnh và linh động cấu trúc lại tổ chức của doanh nghiệp, tiết kiệm các khoản chi không cần thiết”. TS.Tạ Thị Mỹ Linh, Tổng giám đốc SNG Logistics Vietnam, khẳng định: để khai thác tiềm năng của vùng đóng góp 90% lượng gạo, 70% trái cây và 60% thủy hải sản của cả nước, cần thiết lập cơ chế hợp tác giữa các CEO trong vùng. BÌNH AN |







