Thứ Năm, 1/01/2026
32.8 C
Ho Chi Minh City

Dấu ấn cải cách 2025, tạo đà bứt tốc 2026

TS. Huỳnh Thanh Điền

Kinh tế Sài Gòn Online

Kinh tế Sài Gòn Online

A.I

(KTSG) - Năm 2025 khép lại với những dấu ấn cải cách quan trọng. Trong bối cảnh thế giới biến động bởi xung đột địa chính trị và phân mảnh thương mại, Việt Nam kiên định theo đuổi cải cách nền tảng, củng cố nội lực và tái cấu trúc không gian phát triển, qua đó tạo tiền đề cho đà bứt tốc trong năm 2026.

Việc nâng cấp cảng Cái Mép - Thị Vải củng cố vị thế Việt Nam như một trung tâm logistics quan trọng trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc. Ảnh: H.P

Năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế biến động mạnh, với xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, các xung đột địa chính trị kéo dài và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục bị gián đoạn, khiến logistics xáo trộn, chi phí vận chuyển tăng cao và thương mại quốc tế phân mảnh sâu hơn. Trong bối cảnh đó, các tập đoàn đa quốc gia đẩy mạnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng, ưu tiên những điểm đến ổn định và đáng tin cậy.

Ở trong nước, biến đổi khí hậu và thiên tai, đặc biệt là bão lũ, tiếp tục tác động đến sản xuất, hạ tầng và đời sống, đặt ra yêu cầu phải giữ vững ổn định vĩ mô, đẩy mạnh cải cách và nâng cao năng lực chống chịu, cũng như tính tự chủ của nền kinh tế.

Dấu ấn cải cách 2025

Trong bối cảnh nhiều biến động, năm 2025 ghi đậm dấu ấn cải cách có chiều sâu và mang tính chiến lược của Việt Nam. Thay vì lựa chọn các giải pháp ngắn hạn mang tính ứng phó, Việt Nam kiên định theo đuổi cải cách nền tảng, tập trung hoàn thiện thể chế, tái cấu trúc không gian phát triển và nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Trên bình diện đối ngoại, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, linh hoạt và chủ động hội nhập. Trước xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng, việc thiết lập và nâng cấp các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đã giúp mở rộng dư địa hợp tác quốc tế, củng cố niềm tin trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái định vị. Nhờ đó, Việt Nam tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng sạch, sản xuất hiện đại.

Những cải cách đồng bộ trong năm 2025 đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và củng cố niềm tin thị trường. Mức tăng trưởng khoảng 8% phản ánh hiệu quả điều hành trong bối cảnh nhiều thách thức, khẳng định cải cách là động lực trung tâm và tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng cao, bền vững hơn trong thời gian tới.

Ở trong nước, cải cách thể chế được đẩy mạnh với những quyết sách mang tính nền tảng. Việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh và kiện toàn mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ nhằm tinh gọn bộ máy, giảm chi phí vận hành, mà quan trọng hơn là có thể mở rộng không gian phát triển, khắc phục tình trạng phân mảnh nguồn lực và nâng cao hiệu quả điều phối vùng. Đây là bước đi có ý nghĩa dài hạn trong việc nâng cao năng suất thể chế và năng lực quản trị quốc gia.

Song song với đó, hàng loạt nghị quyết lớn về phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập kinh tế quốc tế, hoàn thiện pháp luật, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, y tế và giáo dục được ban hành và nhanh chóng được thể chế hóa. Sự đồng bộ và nhất quán trong định hướng chính sách đã tạo hiệu ứng cộng hưởng, đưa cải cách vượt ra khỏi khuôn khổ đơn lẻ để trở thành các chương trình hành động có tính hệ thống.

Một dấu ấn quan trọng trong cải cách kinh tế là việc xác lập kinh tế tư nhân là động lực trọng yếu của nền kinh tế. Cải cách chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập và mở rộng hoạt động. Đồng thời, chính sách thuế đối với hộ kinh doanh được đổi mới theo hướng bỏ thuế khoán, chuyển sang kê khai, nhằm nâng cao tính minh bạch, công bằng và góp phần ngăn chặn hàng giả, hàng nhái. Kết hợp với việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp ba năm đầu cùng hỗ trợ tín dụng, mặt bằng và công nghệ, những cải cách này thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo.

Trong đầu tư công, phương thức triển khai được đổi mới theo hướng minh bạch, rõ trách nhiệm và tập trung vào các dự án trọng điểm có sức lan tỏa cao, qua đó cải thiện rõ rệt tiến độ giải ngân. Nhiều công trình quy mô lớn được khởi công, các dự án phát triển đô thị theo mô hình TOD (phát triển đô thị tập trung quanh các điểm trung chuyển giao thông công cộng) được triển khai. Cùng với đó, cơ chế hợp tác công - tư (PPP) và các gói tín dụng phát triển hạ tầng được thúc đẩy, vừa tạo lực kéo cho khu vực tư nhân, vừa góp phần giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng suất tổng hợp của nền kinh tế.

Thị trường bất động sản cũng từng bước được tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, giúp khơi thông dòng vốn, tái khởi động dự án và lan tỏa tích cực sang các ngành xây dựng, vật liệu và dịch vụ liên quan. Quan trọng hơn, quá trình này góp phần ổn định tâm lý thị trường, lập lại kỷ cương pháp luật và đặt nền tảng cho sự vận hành lành mạnh, bền vững trong dài hạn.

Công tác điều hành vĩ mô trong năm 2025 tiếp tục thể hiện sự linh hoạt và chủ động. Chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng mở rộng tín dụng có chọn lọc, ưu tiên cho sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng cao; tỷ giá được điều hành linh hoạt nhằm hỗ trợ tăng trưởng đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính.

Một dấu ấn chiến lược dài hạn khác của năm 2025 là định hướng xây dựng TPHCM và Hà Nội trở thành các đô thị toàn cầu. Việc trao cơ chế đặc thù với mức độ tự chủ cao hơn về tài chính, ngân sách và đầu tư đã mở ra không gian thể chế mới, giúp hai đầu tàu kinh tế phát huy vai trò trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo và kết nối quốc tế, tạo nền tảng cho các động lực tăng trưởng mới từ năm 2026 trở đi.

Song hành với cải cách kinh tế, các chính sách xã hội trọng điểm tiếp tục được triển khai quyết liệt. Chương trình phát triển nhà ở xã hội và xóa bỏ nhà tạm, nhà dột nát không chỉ cải thiện điều kiện sống của người dân mà còn góp phần kích thích tổng cầu và hỗ trợ tăng trưởng.

Những cải cách đồng bộ trong năm 2025 đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và củng cố niềm tin thị trường. Mức tăng trưởng khoảng 8% phản ánh hiệu quả điều hành trong bối cảnh nhiều thách thức, khẳng định cải cách là động lực trung tâm và tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng cao, bền vững hơn trong thời gian tới.

Tạo đà bứt tốc 2026

Bước sang năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất định do phân mảnh thương mại, cạnh tranh công nghệ gia tăng và những điều chỉnh chính sách khó lường từ các cường quốc. Trong bối cảnh đó, lợi thế phát triển ngày càng nghiêng về những quốc gia có thể chế vững, tổ chức lại không gian phát triển hiệu quả và củng cố được năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Việt Nam bước vào năm 2026 trên nền tảng cải cách được củng cố từ năm 2025. Bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn hơn, không gian phát triển vùng gắn kết hơn sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, qua đó kỳ vọng giảm chi phí tuân thủ, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện để doanh nghiệp tập trung vào sản xuất, đổi mới. Dòng vốn đầu tư chất lượng cao tiếp tục chảy vào các lĩnh vực công nghệ và sản xuất hiện đại, góp phần nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở đó, mục tiêu tăng trưởng 10% cho năm 2026 được Quốc hội thông qua, thể hiện quyết tâm đưa nền kinh tế bước vào quỹ đạo tăng trưởng nhanh nhưng dựa nhiều hơn vào chất lượng.

Tuy vậy, các thách thức cấu trúc vẫn hiện hữu: năng suất lao động, chất lượng nhân lực và đổi mới sáng tạo còn hạn chế; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, tỷ lệ nội địa hóa thấp; hạ tầng số chưa đồng bộ, áp lực lên giao thông, logistics, năng lượng và không gian đô thị gia tăng, cùng rủi ro của thị trường bất động sản và kỷ luật thực thi chính sách. Trước bối cảnh đó, yêu cầu nâng tỷ lệ nội địa hóa, gia tăng giá trị gia tăng trong nước trở nên cấp thiết. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường tiêu chuẩn cao, tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm 2026 cũng mở ra triển vọng rõ nét về chuyển đổi số trên phạm vi toàn nền kinh tế. Việc liên thông các nền tảng dữ liệu dùng chung và cơ sở dữ liệu quốc gia giúp nâng cao hiệu quả điều hành, cải thiện năng lực dự báo và giảm đáng kể chi phí thủ tục cho doanh nghiệp. Khi trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và các nền tảng số được ứng dụng sâu hơn vào sản xuất, logistics, tài chính và thương mại, năng suất tổng thể của nền kinh tế có điều kiện được nâng cao một cách bền vững, qua đó đặt nền móng cho mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.

Song song với đó, hạ tầng giao thông và logistics tiếp tục là động lực then chốt, với các tuyến cao tốc liên vùng, trục Bắc - Nam và vành đai đô thị được đẩy nhanh, giúp giảm chi phí và mở rộng không gian phát triển. Việc nâng cấp cảng Cái Mép - Thị Vải, Lạch Huyện và triển khai khu thương mại tự do (FTZ) củng cố vị thế Việt Nam như một trung tâm logistics quan trọng trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc.

Đáng chú ý, định hướng xây dựng TPHCM và Hà Nội trở thành các đô thị toàn cầu, cùng với việc triển khai các cơ chế đặc thù đã được Quốc hội thông qua, mở ra dư địa mới trong thu hút dòng vốn tài chính quốc tế, lao động chất lượng cao và các dòng hàng hóa, dịch vụ giá trị gia tăng lớn. Khi hai đô thị này từng bước hội tụ các điều kiện về thể chế, hạ tầng, tài chính, nhân lực và chất lượng sống theo chuẩn quốc tế, Việt Nam có cơ hội nâng tầm vị thế, trở thành điểm đến hấp dẫn trong mạng lưới kinh tế toàn cầu.

Việc vận hành Trung tâm Tài chính quốc tế TPHCM từ năm 2026 là điểm nhấn chiến lược trong việc nâng cấp mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Với khung pháp lý theo chuẩn quốc tế và môi trường thể chế cạnh tranh, Việt Nam có cơ hội mở rộng kênh huy động vốn xuyên biên giới, thu hút các định chế tài chính toàn cầu và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý. Đây sẽ là trụ cột thúc đẩy hạ tầng chiến lược, dịch vụ cao cấp và nâng tầm vị thế tài chính khu vực của Việt Nam.

Cùng với đó, thị trường bất động sản được kỳ vọng phục hồi rõ nét sau khi các vướng mắc pháp lý được tháo gỡ, giúp khơi thông dòng vốn, cải thiện thanh khoản và củng cố niềm tin thị trường. Gắn với Trung tâm tài chính quốc tế TPHCM, bất động sản và hạ tầng có điều kiện tiếp cận các kênh vốn dài hạn, minh bạch hơn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng chất lượng cao.

Nhờ sự hội tụ của cải cách, chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, phục hồi bất động sản và mở rộng thị trường vốn, triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 được đánh giá tích cực. Mục tiêu tăng trưởng 10% sẽ thúc đẩy đổi mới, mở ra giai đoạn tăng trưởng dựa trên năng suất và nội lực, tạo nền tảng cho phát triển bền vững và tiến tới mục tiêu quốc gia thu nhập cao.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây

Tin liên quan

Có thể bạn quan tâm

Tin mới